Saturday, May 11, 2013

Kinh Đạo Nam - Phần 2

Kinh Đạo Nam - Phần 2

Trong phần này sẽ lược trích giới thiệu một số nội dung của Kinh Đạo Nam thuộc tập "Càn". Vì Kinh được viết bằng chữ Nôm, nên khi được chuyển thành chữ quốc ngữ ít nhiều đã được gọt dũa câu thơ, câu văn cho vần điệu hài hòa để dễ đọc dễ nhớ. Đây là sự khác biệt căn bản so với thơ văn giáng bút khi được phát trực tiếp ra bằng tiếng Việt.




KINH ĐẠO NAM - Tập Càn
(Lược trích một số đoạn thơ văn giáng bút)

CỐ TƯỚNG QUÂN GIÁNG THI
Phảng phất hồn trung trải bấy nay,
Long đao ngang dọc múa luôn tay.
Theo đời chẳng quản trời Nam Bắc
Sống chết nào quên nghĩa tớ thầy.
Căm kẻ gian hùng gan vẫn tím,
Nếm mùi chính khí lưỡi còn cay,
Nay vâng đế mệnh đưa thư xuống,
Vừa ở Sòng Sơn mới đến đây.
---------------------------------------------
(1) Theo học giả Đào Duy Anh, Cố Tướng quân
      là Chu Xương, đệ tử của Quan Thánh.


LỜI THOẠI
Nay Đàn này đội ơn được các vị Liệt Thánh chuẩn ưng
giáng bộ Kinh Đạo Nam. Bộ Kinh này lời nghiêm mà
nghĩa chính, giản dị mà tươi đẹp. Không thể đứng đầu
mọi kinh văn từ trước, nhưng cũng đủ để cho người ta ca,
người ta khóc, người ta oán...  Nếu có nỗi ẩn tình thì Đàn
này là một may mắn lớn.
Vậy thì là then chốt quan trọng đương thời, sao lại không
giới (kính) cho được?


THƠ
(Ngày 13 giờ Tuất)
Nước non lận đận mấy thu tròn,
Nguyện với trăng già một tấm son.
Đi sớm về trưa chi quản mẹ,
Ngàn kinh muôn quyển luống vì con.
Đoái thương nay hãy còn thơ dại,
Nhẫn dạy sau rồi cả lớn khôn.
Không đẻ nhưng cùng trong một bọc,
Vì tình nên Mẹ phải lon xon.


TIỂU DẪN
Trời thu đằng đẵng bóng vàng,
Gót sen lần bước xênh xang động đào,
Vui chơi nước thẳm non cao,
Thông reo trúc múa hoa chào nhị thơm.
Chim rừng thỏ thẻ về hôm,
Hồng đưa thư đến mở nom chữ đề.
Thư rằng xin trở lại quê,
Đạo Nam Kinh đã châu phê giáng rồi,
Sắc Rồng vâng mệnh tự Trời,
Ngàn thu may gặp một thời văn minh,
Phiền Ngài làm chủ Đàn Kinh,
Trung tuần cử bút cho thanh mọi bề.
Xem rồi như tỉnh như mê,
Dùng dằng nửa ở nửa về, lạ sao?
Thương thay chút phận liễu đào,
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!
Trên là những sợ mệnh Trời,
Nghĩ mình hồ dễ dối lời được không,
Dưới là thương giống Tiên Rồng
Cùng trong giọt máu Lạc Hồng sinh ra.


TỰA

Tựa rằng:
Sông Nhị núi Nùng,
Nước bốn ngàn năm văn hiến;
Con Hồng cháu Lạc,
Dân hai mươi triệu đồng bào.
Trời báu của sinh, bể bạc rừng vàng,
Đồ sản vật nhất miền Đông Á.
Đất thiêng người trội, trai tài gái mạnh,
Tiếng anh hùng lừng cõi viêm phương(1),
Trẻ con kia - Ông Đổng Thiên Vương
Ngựa sắt xông trời dẹp Ân tặc mà báo thù cho nước.
Đàn bà nọ, Bà Trưng Nữ Chúa,
Quần hồng đua sức, đánh thắng Tô,
Mà giả nghĩa cho chồng.
Rừng Chi Lăng Lê Thái Tổ dấy quân,
Đầu Liễu Thăng treo ngược lưỡi gươm thần,
Giặc Minh ấy gà vừa phải cáo.
Sông Bạch Đằng Trần Đại Vương ra trận,
Máu Ô Mã đầy dòng nước bạc,
Quân Nguyên nay chìm đã sợ cung.
Ấy những người hào kiệt anh hùng,
Mượn đào bút giãi bày sơ lược.
Còn những kẻ nhân nhân chí sĩ,
Ở sử xanh chép kể muôn ngàn.
Hỡi ôi !
Gương trước chưa mờ, truyện xưa còn nhớ,
Kìa thành Thăng Long, kìa núi Ngũ Hổ,
Nước non vẫn nước non nhà;
Này họ Hồng Bàng, này tổ Lạc Long,
Giòng giống nguyên giòng giống cũ.
Xưa sao thế mà nay sao thế ?
Toan vạch Trời hỏi một đôi câu.
Khôn dường sao mà dại dường sao ?
Để cực Mẹ đến trăm ngàn nỗi.
Chua xót lắm, cay đắng lắm,
Tâm sự này biết ngỏ cùng ai ?
Đau đớn thay, khốn khổ thay,
Cơ hội ấy vì đâu nên nỗi ?
Thôi chỉ tại vụng cơ khai hoá,
Gió chiều chẳng biết che chiều,
Cam phận ngu hèn,
Nước yếu không ngờ rằng yếu.
Cắm cổ chết trong vòng nô lệ,
Mối kinh luân còn vắng mặt trượng phu.
Liếc mắt trông một dải non sông,
Vòng danh lợi chỉ rặt tay thiếp phụ.
Sung sướng kẻ cơm vua áo chúa,
Vẻ cân đai riêng sướng một mình.
Khó nhọc người chân lấm tay bùn,
Phận cày cuốc biết đâu là việc nước.
Kỹ nghệ một chút gì chưa học,
Chỉ khéo tay dán giấy bôi hồ.
Văn minh nửa bước chửa rõi theo,
Đã tài ngón bới lông tìm vết.
Người như thế, khôn ngoan như thế,
Thôi cuộc đời còn dám nói chi.
Lòng thế kia, ăn ở thế kia,
Mong vận hội làm nên sao được.
Nói ra thêm dơ miệng,
Cơ thịnh suy đành đổ tại Trời,
Nặng ắt chẳng an lòng,
Sự khôn dại mong còn nhờ Thánh.
Rày vâng mệnh chín lần trao xuống,
Kinh Đạo Nam ngọc chuốt vàng trau.
Thực nhờ ơn Ba Đấng thương cho(2),
Đàn Hưng Thiện hoa thêu gấm dệt.
Lò Trời hun đúc,
Rèn thép đanh nên bộ văn chương.
Bút Thánh điểm tô,
Vẽ son phấn vào pho nghĩa lý.
Chớ bảo nôm na, Cha mách qué,
Tai không nghe, lòng không nghĩ,
Mặt cương thường thêm thẹn với non sông.
Dẫu loẹ choẹ cũng Mẹ với con,
Lòng ân ái vẫn sánh cùng Trời Đất.
Rày con nên nghĩ lại,
Nước có nguồn, cây có gốc,
Ngắm xem gương trước làm sao.
Đây Mẹ vẫn mong cho:
Cá gặp nước, rồng gặp mây,
Tơ tưởng hội sau nhiều lắm.
Trời còn đây, Đất còn đấy,
Giang Sơn rồi lại của con.
Sông chưa cạn, núi chưa mòn,
Hương lửa càng thơm tiếng Mẹ.
Nay tựa.
---------------------------------------------
(1) Phương nóng, chỉ vùng nhiệt đới.
(2) Ba Đấng là Trời, Phật và Thánh.


Hịch triệu các âm thần cõi Nam

(Ngày 14, giờ Dậu)
Hỡi bạn gái cung tiên đâu tá,
Cùng một lò sinh hoá, hoá sinh,
Việt Nam đây là đất họ mình,
Một gốc nẩy cành Hồng, ngọn Lạc.
Non nước bốn ngàn năm âu vạc,
Vinh có nhau mà lưu lạc có nhau,
Chị em ta kẻ trước người sau,
Ai cũng bước một cầu sông nước ấy.
Vua Trưng Nữ ba năm vùng vẫy,
Ghé đôi vai mà gánh lấy cương thường.
Bà Triệu Kiều xoay xở cuộc tang thương,
Quyết một dạ phá tan quân bạo ngược.
Lúc sinh tiền cũng vì việc nước,
Miếu lửa hương, bia tạc tiếng thơm,
Lòng trung trinh vặc vặc khắp trời Nam,
Dẫu thành bại, kể làm chi sự cũ.
Lai láng chảy một làn máu đỏ,
Nòi giống chung một họ da vàng.
Nay cùng nhau trong cuộc giang san,
Thương dân nước gặp cơn chua xót lắm.
Ta hồ dễ cầm lòng cho đặng,
Thánh còn thương mà chẳng ngại ngùng.
Mấy mươi năm hạc ruổi loan dong,
Mối nhiệt huyết trong lòng nung nấu thế.
Khắp non nước dựng đàn chửng tế,
Gọi hồn mê trong bể đại dương.
Đến nay còn mở chút tấm thương,
Bút đào lại dọc ngang tô điểm nữa.
Kinh Đạo Nam gấm thêu nên chữ,
Vách Khổng e ngọn lửa Tần hoàng.
Trong mười chương đúc ngọc tô vàng,
Sắc Ta phải sửa sang cho trọn vẹn.
Bút viết mãi thời ngòi cũng tuyệt,
Miệng nói nhiều đã hết cả hơi.
Tiếng đỗ quyên kêu lắm dứt rồi,
Lòng sợ thế khôn nguôi trong dạ đỏ.
Xin chị em thương tình hạ cố,
Quả phúc chung vo rõ cho tròn,
Chữ đồng nguyện một lòng son.


THOẠI (Dịch nghĩa)
Kinh này chia làm mười chương. Tôi phụng mệnh đại giá giáng bút.
Như Kinh, Truyện có chính văn, mười chương chia làm các mục. Tôi giao cho thị nữ diễn dịch. Như Kinh, Truyện có tập chú, khiến cho có thứ tự minh bạch, không thể nói một cách xô bồ được.


Đệ tam Thánh Mẫu giáng khai Kinh tân
Thương giống da vàng, gieo ngòi bút đỏ,
Giáng tự, giáng ca, giáng thi giáng dụ.
Nghĩa lý đầy pho, văn chương một bộ,
Như gấm thêu hoa, như trăng sáng tỏ.
Ngọn đuốc hôn cù, hồi chuông kim cổ(1)
Gọi khách sông mê, vớt người bể khổ.
Ai biết kính tin, ai hay hâm mộ,
Miệng đọc lòng suy, nhờ ơn vô số.
-------------------------------------------------------
(1) Hôn cù có nghĩa soi đường đêm hôm tăm tối.



Đệ nhất Thánh Mẫu giáng thơ
Nặng với giang sơn một khối tình,
Nỗi niềm ai dễ biết cho mình.
Đôi tay gấm dệt muôn hàng chữ,
Chín khúc tơ vò một bộ Kinh.
Vơ vẩn năm canh hồn cố quốc,
Mơ màng muôn kiếp mộng phù sinh.
Tấm lòng thương giống Rồng Tiên lắm,
Nặng với giang sơn một khối tình.

 

(Còn tiếp)

         Lê Hùng sưu tầm và giới thiệu