Tuesday, April 16, 2013

Tình cảm ông bà - cha mẹ - con cái (tiếp 3)




Tình cảm ông bà - cha mẹ - con cái (tiếp 3)

Ơn cha, nghĩa mẹ chớ quên
              Ơn vua lộc nước, mong đền con ơi.
                        Cuốc kêu khắc khoải mùa hè
                        Làm thân con gái phải nghe lời chồng
                        Sách có chữ rằng phu xướng phụ tòng
                        Làm thân con gái lấy chồng xuất gia
                        Lấy em thờ mẹ thờ cha
                        Thờ cha, kính mẹ, ấy là người ngoan.
Đạo làm con trong gia đình tộc họ, ngoài trách nhiệm gìn giữ huyết thống, thờ phụng tổ tiên, mỗi người con trong gia đình còn phải có chung trách nhiệm chăm lo phụng dưỡng cha mẹ, đối xử với cha mẹ phải lấy đức hiếu làm trọng, phải coi đó là lẽ sống không thể thiếu ở đời. Thơ dân gian phản ánh chân thực, cảm động quan hệ giữa cha mẹ và con cái, ca ngợi công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ:
                        Công cha ba năm sinh thành tạo hóa
Nghĩa mẹ chín tháng cực khổ cưu mang.
Việc giáo dục con trẻ lòng biết ơn tổ tiên ông bà, cha mẹ, với cội nguồn gốc tích được người nghệ sĩ dân gian thổi hồn vào những lời thơ trong bài hát ru con, thắm đậm tình người, và đặc biệt nhân văn. Người nghệ sĩ dân gian đã hiểu được tâm lý trẻ nhỏ qua lời ru ngọt ngào, âu yếm, vỗ về của cha mẹ, những hình ảnh tốt đẹp và những luân lý sống ở đời sẽ thấm vào trí óc non trẻ của chúng lòng vị tha và những giá trị nhân bản:
                        Con cò bay bổng bay la,
Bay từ cửa miếu bay ra cánh đồng.
Cha mẹ sinh đẻ tay không,
Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi.
Trước là nuôi cái thân tôi,
Sau nuôi đàn trẻ, nuôi đời cò con.
                        Con cò bay lả bay la.
Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng...
Tình cảm mà mẹ, cha dành cho con cái trong thơ dân gian biểu hiện ở nhiều cung bậc tình cảm và góc độ quan chiêm, ở đó cái thiêng liêng, cao quý tưởng vô hình, vô ảnh, chỉ có thể biểu hiện qua hành động cũng được các tác giả dân gian hình tượng hoá thành những biểu tượng gần gũi với tâm hồn người dân Việt. Bản chất tình thương của cha mẹ với con cái ngoài vai trò trách nhiệm, thì tính bản năng làm cha, làm mẹ cũng góp phần không nhỏ hình thành chất keo dính bền chặt mối quan hệ tình cảm ấy. Trong cuộc sống thực tế, chỉ có cha mẹ mới có tấm lòng sẵn sàng hy sinh tất cả để con cái được hạnh phúc nên người, dù cha, mẹ phải chịu gian nan, vất vả, hao mòn bản thân cũng không quản ngại, hay đắn đo suy tính thiệt hơn:
Nuôi con cho đựơc vuông tròn
Mẹ thầy dầu dãi, xương mòn gối long
Con ơi, cho trọn hiếu trung
Thảo ngay một dạ, kẻo luống công mẹ thầy.
          Con là tài sản vô giá của cha mẹ:
Có con hơn của, ơi chàng
Bo bo giữ lấy hòm vàng mần chi.
Trước cuộc sống đầy rẫy khó khăn và muôn vàn thử thách, vai trò làm cha, làm mẹ phải chịu muôn vàn cay đắng để nuôi con khôn lớn, thì niềm mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp cho con cái sau này là điều mà bất cứ người làm cha, làm mẹ nào cũng mong mỏi biến nó thành sự thật, bởi quan niệm tương lai của con là cả cuộc đời của mẹ gửi gắm:
Ru bồng, ru bổng, ru bông
Mẹ ru con ngủ, mẹ dông lên làng
Giật vay mớ gạo, mớ lang
Ít nhiều qua bữa, quấy quang qua ngày
Sinh con gặp phải buổi này
Bao giờ mở mặt, mở mày con ơi!.
Nuôi con lớn, người làm cha mẹ nào có mong con đền đáp lại công lao nuôi dạy, mà chỉ một lòng mong mỏi con lên người, biết sống và biết hành xử với cuộc đời trong tư cách một con người có đạo đức, mà thước đo của nó là sự trung, sự hiếu. Qua lời thơ khi người mẹ dân gian hát ru con vào giấc ngủ, thì ước mơ ấy càng mãnh liệt, cháy bỏng:
Giấc hòe, giấc quế êm êm
Chữ trung, chữ hiếu mẹ tìm mẹ ru
Ru con ước những khang cù...
Vất vả nhọc nhằn với công việc nông tang, mùa vụ cầy cấy, hay nội trợ phục vụ gia đình nhà chồng. Sau một ngày cực nhọc, người mẹ ôm con thơ cất tiếng à ơi với niềm hạnh phúc riêng của mình, đó là lời tâm tình xuất phát từ trái tim của mẹ với con, đâu phải sự kể lể công lao:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Đêm canh chầy thức đủ vừa năm.
Con cái phương trưởng thành đạt, thông minh sáng láng thì người làm cha, làm mẹ nào cũng mừng, thế nhưng nỗi lo về tính cách của các con cũng luôn thường trực đè nặng tâm tư cha mẹ bởi suy nghĩ thường trực trong xã hội từ lâu nay chữ “tài đi với chữ tai một vần”, người có tài mà thiếu đức thì thường sinh ra tự cao, tự đại, người có đức mà không nhanh nhẹn, hoạt bát, hay cù lần chậm chạp thì cũng thật đáng lo ngại, nó sẽ trở thành vật cản cho sự tiến bộ xã hội:
                        Con tài lo láo, lo kiêu
                        Con ngu thì lại lo sao kịp người.
Sinh ra đứa con khoẻ mạnh, hoạt bát, thông minh cho chồng và gia đình nhà chồng là niềm tự hào của người phụ nữ, lòng thương con là động lực lớn nhất trong tình cảm của người mẹ, giúp người mẹ có được sự thanh thản trong tâm hồn, phấn đấu, hy sinh lợi ích bản than cho gia đình nhà chồng, tấm chân tình ấy của người mẹ được thơ dân gian phản ánh rất chân thực và cảm động.
                        Sinh con ai nỡ sinh lòng
                        Sinh con ai chẳng vun trồng cho con
                        Có con gây dựng cho con
                        Có chồng gánh vác nước non nhà chồng
                        Có con lo lắng cho con
                        Có chồng phải gánh nước non cho chồng.    
Mong ước con lớn lên xứng đáng với mọi người, dù là phận trai hay phận gái, cha mẹ đều mong mỏi hy vọng ở tương lai của con cái tấm lòng tận trung báo quốc, qua lời thơ người mẹ dân gian ru con ngủ thì mong ước và kỳ vọng ấy chan chứa tình cảm lớn của người mẹ dành cho những bậc nữ lưu hiệt kiệt và những trang nam tử dám xả thân vì đất nước nơi chiến trận, và tình yêu của mẹ dành cho con cũng vậy, nó là tình cảm vĩ đại của một dân tộc đã sinh ra những người con biết hy sinh vì đại nghĩa:
                        Ru con, con ngủ cho lành
                        Cho mẹ gánh nước rửa bành con voi
                        Muốn coi, lên núi mà coi
                        Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
                        Túi gấm cho lẫn túi hồng
                        Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân.
 Thiết thực hơn nữa là đức hy sinh cũng như lòng thương con của người mẹ vì hoàn cảnh phải để con nhỏ ở nhà đi cày đi cấy, tuy phải lam lũ vất vả với ruộng đồng, nhưng tấm lòng dành cho việc chăm sóc chồng con ở nhà vẫn là sự ưu ái hàng đầu, nhà thơ dân gian đã đặt ra một giả thiết rất gần gũi với tư duy của người nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời qua việc phân chia thành quả lao động, mà sản phẩm là do người phụ nữ tìm kiếm được từ thiên nhiên, trong một tình huống tình cờ:
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con giếc, con trê
Cầm cổ lôi về bắc nước làm lông
Miếng nạc thời để phần chồng
Miếng xương mẹ gặm, miếng lòng con ăn.
Việc “dạy con từ thuở còn thơ” cũng được các bậc cha mẹ quan tâm và nâng thành triết lý giáo dưỡng của mình, rèn rũa bồi đắp ý thức về chữ hiếu, chữ nghĩa cho trẻ từ khi chúng còn nằm nôi, lời thơ ngắn gọn, mà cô đọng cả nguyên nhân, hệ quả, nhưng vẫn mang đậm dấu ấn tình cảm của cha mẹ dành cho con cái hàm ý nhắn nhủ:
                        Con ơi muốn nên thân người
              Lắng tai nghe thấy những lời mẹ cha.
                        Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy
                        Gắng công mà học có ngày thành danh.    
Bên cạnh chữ hiếu, chữ nghĩa thì dân gian xưa rất chú trọng giáo dưỡng cho con cái chữ nhân, chữ đức, bằng những hành động thiết thực “tu nhân”, “tích đức”, người làm cha, làm mẹ bằng tình cảm và kinh nghiệm sống của mình sẽ giúp con ngộ ra chân lý giản đơn của cuộc sống vinh hiển thành đạt, ngoài sự nghiệp công danh còn cần lắm chữ nhân, chữ đức để đối xử với đời, với người:
Cây xanh thì lá cũng xanh
                        Cha mẹ hiền lành để đức cho con
                        Mừng cây rồi lại mừng cành
                        Cây đức lắm chồi, người đức lắm con
                        Ba vuông sánh với bảy tròn
                        Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu.
Có cha mẹ mới có con cái, đó là cái lễ tự nhiên của trời đất, người con dù có thành đạt trong xã hội, có địa vị chức quyền cao đến đâu cũng không thể phủ nhận hay rũ bỏ toàn bộ vai trò chăm sóc nuôi dưỡng, dạy dỗ nên người của cha mẹ:
Thuyền không bánh lái thuyền quày
               Con không cha mẹ, ai bày con nên?.
Trong giao tiếp xã hội, vai trò của người cha vô cùng quan trọng, từ việc làng, việc xã đến việc quán xuyến đốc thúc chăm chút con cái trong gia đình. Con cái có sự bảo ban, coi sóc thường xuyên của người cha sẽ được xã hội nể vì, ưu ái:
                        Còn cha cơm trắng cá ngon
                        Ăn rồi lại giở bàn son con ngà.
                        Còn cha gót đỏ như son
                        Đến khi cha chết gót con đen sì.
                        Còn cha nhiều kẻ yêu vì
                        Một mai cha thác ai thì yêu con.    
Mẹ sinh, cha dưỡng công lao sánh ngang trời đất, bởi người mẹ là hiện than của quá trình thai nghén, mang nặng, đẻ đau, nuôi nấng, chăm sóc, hình thành nhân cách, tâm hồn cho người con, bên cạnh vai trò người cha luôn nghiêm khắc, dạy dỗ, bảo ban mọi đường ăn nhẽ ở trên đời giúp con nên người. Ơn mẹ nhiều, ơn cha cũng không dễ đem so sánh trong tình cảm của con:
... Nghĩ đà ơn mẹ đã nhiều
Kìa như dạy dỗ lại về ơn cha.
Dân gian quan niệm việc sinh con đẻ cái và nuôi dưỡng được ví như “nước mắt chảy xuôi” hay cái vòng tròn của hành động “lần trôn quang”, như vậy các bậc cha mẹ ngoài nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi dạy con cái mình phương trưởng cũng chẳng mong nhiều vào sự đền đáp trả ơn sinh thành từ những đứa con, bởi khi chúng trưởng thành lấy vợ lấy chồng chúng sẽ lại như mình hết lòng vì con cái chúng. Quan niệm này tuy sát thực với cuộc sống có phương thức sản xuất tiểu nông, nhưng cũng không hoàn toàn đúng, hay mang tính bất biến bởi trong tình cảm của những người con khi bước vào ngưỡng làm cha, làm mẹ sẽ tự ý thức ra:
                        Lên non mới biết non cao
                        Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.
                        Mẹ cha trượng quá ngọc vàng
                        Đền bồi sao xiết muôn vàn công ơn.    
Có nhiều người con cậy quyền, thế, tiền bạc, tuy học hành đỗ đạt cao mà lại không thấu triệt hết chữ hiếu, bởi vậy trong cuộc sống đối đãi với cha mẹ theo nghĩa vay trả, lấy đó làm phương châm sống và hành xử thích hợp của mình, họ đâu biết rằng tình cảm cha mẹ dành cho mình suốt tuổi ấu thơ có tiền muôn bạc bể cũng không mong hòng báo đáp xứng đáng công lao mẹ cha:
Bao giờ cá lí hóa long
Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.
Cũng có những người con vì hoàn cảnh khốn khó, nhưng thấu hiểu được chữ hiếu chính là cái đạo sống và ứng xử hết mực cung kính, yêu thương và kính trọng tuổi trời của cha mẹ, để bày tỏ lòng hiếu thảo đâu cần đến “tiền muôn bạc bể”, mà bằng chính tấc lòng thành kính mong cầu cha mẹ sống lâu, vui hưởng tuổi già bên tình cảm chan chứa yêu thương của con cái dành cho:
                        Mỗi đêm thắp một đèn trời
                        Cầu cho cha mẹ sống đời với con.
Với người con hiếu thảo thì bất cứ hoàn cảnh nào cũng sẽ tìm ra những phương cách hành xử thích hợp. Lẽ thường là sự thay đổi tâm sinh lý tính ở mỗi người, khi trở về già hay trở tính khắt khe, khó gần gũi chăm chút, hay tự ái, chấp nhặt, bắt bẻ con cái khoan nhặt đủ điều, người già khó tính cả từ nết ở đến đường ăn. Người con hiểu được tâm tính ấy của cha mẹ khi trở về già đã dành trọn tình cảm thể hiện qua hành động ứng xử và chăm sóc sức khoẻ thường ngày cho cha mẹ qua miếng ăn mỗi bữa:
Tôm càng bóc vỏ bỏ đuôi
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.
Đói lòng ăn hột chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.
Đói lòng ăn trái ổi non
Nhịn cơm nuôi mẹ, cho tròn nghĩa xưa.    
Khi không có điều kiện ở chung cùng cha mẹ già, do công việc xã hội quy định, hoặc do hoàn cảnh bắt buộc, những người con vẫn có thể giữ trọn được đạo làm con nếu anh ta có tấm lòng hiếu đễ:
                        Mẹ già ở tấm lều tranh
                        Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con...
Lẽ tự nhiên của tạo hoá hay quy luật cuộc sống đã quy định, con người sinh ra, lớn lên, trưởng thành, trở về già rồi vĩnh viễn mất đi, ý nghĩa ấy gói trọn trong triết lý thành, trụ, hoại, diệt nên cha mẹ không thể sống ở đời mãi mãi cùng con cái, bởi lòng tiếc thương vô hạn của con cái dành cho cha mẹ mà người nghệ sĩ dân gian đã bật ra một ý nghĩ đầy tính triết luận về sự sống trong vũ trụ, giữa vật vô tri và hữu tri:
... Khế chết khế lại mọc chồi
Mẹ già đâu dễ ở đời với ta.
Tuổi già thường gắn với ốm đau bệnh tật và luôn phải đối đầu cái chết mỗi ngày một cận kề hiện hữu, họ suy tư về cái chết như là một lẽ tự nhiên, là quy luật sinh tồn của cuộc sống, không mong tránh khỏi điều đó trong cuộc đời. Trong tâm tư tình cảm những người con hiếu thảo, thì nỗi lo lắng về ngày chia tay vĩnh viễn với cha mẹ mình vì cái chết của tuổi già luôn là sự dằn vặt xa xót:
                        Mẹ già như chuối chín cây
                        Gió lay mẹ rụng con thời mồ côi.
                        Cha già tuổi đã dư trăm
                        Chạnh lòng nhớ tới, đằm đằm lụy sa.    
Trong ký ức của người con khi cha mẹ đã về cõi vĩnh hằng, là những kỷ niệm ấu thơ đẹp đẽ về sự chăm sóc miếng ăn, giấc ngủ cho mình có được sự trưởng thành ngày hôm nay:
                        Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
                        Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.
Ngậm ngùi, đau đớn, xa xót vì sự ra đi của mẹ mãi mãi không bao giờ có thể gặp lại, chỉ cần gặp một hình ảnh thân thương gợi nhắc đến dáng hình của mẹ cũng đủ làm lòng người con quặn thắt vì thương nhớ:
                        Chiều chiều ra đứng ngõ sau
                        Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
                        Chiều chiều ngó ngược ngó xuôi
                        Ngó không thấy mẹ ngùi ngùi nhớ thương.
                        Chiều chiều xách giỏ hái rau
                        Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần.    
Tâm trạng người con khi thiếu vắng cha mẹ bên mâm cơm, cũng là tâm trạng chung của những người con đã vĩnh viễn mất mẹ, mất cha, sự thiếu hụt, chống chếnh trong tình cảm, trong thói quen sinh hoạt thường ngày khi còn cha, còn mẹ đã khiến người con thêm buồn tủi nghẹn ngào mỗi khi nâng bát:
Gió đưa cây cửu lý hương
Giờ xa cha mẹ, thất thường bữa ăn
Sầu riêng bữa chẳng muốn ăn
              Đã bưng lấy bát lại dằm xuống mâm.
Trọn tuổi trẻ, cha mẹ đã phải hy sinh cho những người con, từ miếng cơm ăn đến manh áo mặc, khi nhà khó khăn, cha mẹ phải đi làm công làm mướn kiếm miếng cơm qua ngày, với bản tính cần kiệm, hay lo xa của người Việt thường trực trong suy nghĩ và đức hy sinh vô bờ bến của người làm cha, làm mẹ, đã san sẻ cả phần ăn của mình để đem về nuôi con, người con nào quên được ơn đức ấy mỗi khi có dịp nhớ lại thuở ấu thơ:
Thương con, tần tảo sớm hôm
              Cơm đùm chéo áo, cháo đùm lá môn.
Thương mẹ nhớ cha như kim châm vào dạ
              Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi.
Việc nuôi dưỡng cha mẹ già không phải là gánh nặng cho con cái, trên đời không thiếu những người con vất vả sớm hôm làm lụng, buôn bán kiếm tiền nuôi mẹ, nuôi cha, và họ lấy đó làm niềm vinh hạnh cho mình, cho vợ con, gia đình mình đã đáp trọn chữ hiếu cùng cha mẹ:
Khó nghèo đòn gánh liền vai
              Bán buôn nuôi mẹ, không quản ai chê cười.
Khó nghèo xé vạt vá vai
              Làm thuê nuôi mẹ, không quản ai chê cười.    
Hoàn cảnh cuộc sống đưa đẩy, bắt buộc chồng phải xa vợ, con cái phải xa cha mẹ, nhưng tấm lòng của những người con trai trên bước đường mưu sinh hay toan lo gây dựng sự nghiệp, danh lợi vẫn luôn canh cánh vấn vương tình cảm gia đình với vợ, với cha mẹ, với con cái:
Anh đưa em lên ga Thuận Lí
              Ba giờ chiều vô nghỉ Đông Hà
              Phần thời anh thương mẹ, thương cha
              Phần thời thương con, nhớ vợ xót xa trong lòng.
Phận người con gái theo lẽ thường, nhỏ thì ở với mẹ, với cha, tham gia quán xuyến công việc gia đình cùng mẹ, đến tuổi trưởng thành thì lấy chồng và sống theo khuôn phép, gia đạo nhà chồng, trong hoàn cảnh bị chi phối thì tình cảm của người con gái với cha mẹ mình suốt đời không thay đổi, tuy rằng trong gia đình cô, trách nhiệm chăm nom cha mẹ và thờ cúng tổ tiên vẫn thuộc về vai trò của người con trai trưởng. Trước khi bước chân về nhà chồng, chắc chắn tình cảm của cô sẽ dành cho cha mẹ, nhất là sự lo lắng cho người mẹ già, người đã cùng cô quán xuyến gia đình suốt ấu thơ:
Gặp anh đây em hỏi giao hòa
              Thương em, anh có tưởng đến mẹ già em không.
Chẳng lo thân bậu với qua
              Lo chút mẹ già đầu bạc tuổi cao.    
Chăm sóc giúp đỡ cha mẹ khi cha mẹ già yếu, chân chậm mắt mờ là những tình cảm rất đáng trân trọng nơi người con gái, bởi ngoài nỗi lo toan về trách nhiệm gánh vác công việc nhà chồng cho trọn vẹn đạo làm con, thì tình cảm dành cho cha mẹ mình cũng không thể sao nhãng, khiến gánh nặng trên vai cô càng tăng thêm:
Mẹ già đầu bạc như tơ
              Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.
Cha mẹ tóc bạc, da mồi
              Ơn thâm em đền bồi không phỉ.    
Ngay việc cưới hỏi, hôn nhân cô gái cũng hoàn toàn tin tưởng vào sự chọn lựa của cha mẹ, dù người chồng mình có tâm đầu ý hợp với mình như mong muốn hay không thì cô gái vẫn một lòng nghe lời cha mẹ, không dám làm trái ý vì lo cha mẹ buồn khổ vì bản thân mình. Thật đáng quý tấm lòng những người con gái hiền hậu, hiếu thảo, vì không muốn phụ công lao sinh thành, dưỡng dục, sẵn sàng chấp nhận hạnh phúc riêng tư do cha mẹ sắp đặt:
Đôi ta là bộ con cờ
               Trước ơn cha mẹ, sau nhờ nhân duyên
               Mẹ cha là biển là trời
          Nói sao hay vậy đâu dám trao lời thở than.
Với cô gái sinh trưởng trong gia đình neo đơn, hay cảnh là con gái duy nhất của cha mẹ. Khi lớn lên đi lấy chồng, người con gái ấy phải tuân theo quy định khắc nghiệt của tập tục, lễ giáo, và có trách nhiệm phải thực hiện triệt để giáo lý “tam tòng tứ đức”, nếu rơi vào hoàn cảnh nhà chồng cũng chẳng dư giả gì tiền tài, lẫn nhân lực, người con gái chỉ còn biết bày tỏ tâm trạng xót thương cha mẹ mình quạnh hiu, không người chăm sóc mà tủi thân khi không thể báo đền công lao cha mẹ:
Chữ xuất giá tòng phu phải lẽ,
                        Gái có chồng bỏ mẹ quạnh hiu
                        Bớ anh ơi!
                        Em nhớ khi thơ bé nâng niu
                        Ngày nay xuất giá bỏ liều mẹ cha.
Đạo ứng xử của người vợ trong gia đình khi đã lấy chồng phải theo chồng, không cho phép người vợ có sự lựa chọn, dù là lời cha mẹ mà cô nhất nhất tuân theo từ thuở nhỏ. Trong xã hội, từ xa xưa mối mâu thuẫn giữa bên tình, bên hiếu thường khó dung hoà và người con gái khi rơi vào tình cảnh như vậy cũng thật khó mà giữ trọn được cho vẹn toàn cả hai bề:
Không nghe anh thì lỗi đạo tam tòng
                        Nghe anh thì thất hiếu, thất trung với mẹ thầy.
Dù cô gái có được chồng yêu chiều đến mấy, cũng không thể tự ý bỏ lại gia đình chồng con mà về thăm bố mẹ mình để đáp đền công ơn nuôi dưỡng, dù chỉ là hình thức, hầu mong động viên tuổi già của cha mẹ. Là người con gái có giáo dục trong giao tế ứng xử, cô gái khôn ngoan chọn cách khi gia đình thuận hoà bày tỏ tâm sự cùng chồng để kéo sự cảm thông từ chồng về phía mình rồi lấy đó là cơ sở và điều kiện khéo léo đề đạt nguyện vọng chính đáng, trong hoàn cảnh ấy, chắc hẳn chẳng chàng rể nào nỡ chối từ, đây cũng là một giải pháp rất hữu hiệu mà tác giả dân gian đã đưa ra giúp các cô gái còn băn khoăn đứng trước sự lựa chọn bên tình, bên hiếu:
              Chim kêu dưới suối ao đàng
                        Em còn chút mẹ, cậy chàng viếng thăm.
              Công ơn thầy mẹ, em không đền được
                        Giao cho anh đền thế
                        Ra Thanh bổ quế, vào Nghệ bổ sâm
                        Lên non ngậm ngải tìm trầm
                        Đền công ơn phụ mẫu đã lao tâm sinh thành.    
Trước khi theo chồng, có nghĩa cô gái vẫn phụ thuộc vào gia đình, thì uy quyền của người cha với vai trò là ông chủ của gia đình có ảnh hưởng rất to lớn, cô gái muốn đi đâu, làm gì đều thuộc phạm vi quản lý của người cha, kể cả trong lĩnh vực hôn nhân hạnh phúc, người con gái phải chịu an phận “cha mẹ đặt đâu ngồi đấy”, và sự thiệt thòi luôn đè nặng lên số phận của người con gái trong cuộc hôn phối thụ động này, khi sự đã rồi thì họ chỉ còn biết than thở trách cha mẹ đã không sáng suốt khi lựa chọn cho mình người chồng tử tế, nhưng sau những lời than thở đó, họ vẫn biết rằng chỉ vì tấm lòng cha mẹ thương con cái thiếu tỉnh táo trước tiền tài hay danh vọng mà ép uổng:
Lửa nhen vừa mới bén trầm
                        Trách lòng cha mẹ nỡ cầm duyên con.
Đường đi những lách cùng lau
                        Cha mẹ tham giàu, ép uổng duyên con
                        Duyên sao cắc cớ hỡi duyên
                        Cầm gương, gương võ, cầm vàng, vàng phai.    
Số phận của người con gái thật lắm đa đoan, dù rằng họ có là nữ lưu tuyệt sắc hay công dung ngôn hạnh tài đức vẹn toàn thì vẫn bị đối xử như vậy trong hôn nhân, chẳng kể xuất thân sang hèn hay địa vị cao sang cành vàng lá ngọc:
Cha mẹ cho em sang chiếc đò nghiêng
                        Đò trùng triềng đôi mạn, em ôm duyên trở về.
Giáo dục nhân cách sống cho con trai ngay từ nhỏ là mối quan tâm hàng đầu của người cha, người mẹ, bởi trong tương lai người con trai sẽ thay cha làm chủ gia đình, là chỗ dựa sau này của cha mẹ lúc tuổi già xế bóng, đồng thời cũng là người nối giữ việc hương hoả thờ phượng tiên tổ cho dòng tộc. Người con trai được trang bị đủ kinh nghiệm giao tiếp cuộc sống qua sự bảo ban trực tiếp của người cha, quan trọng nhất vẫn là thực thi chữ hiếu, và đức kiệm cần:
Làm trai nết đủ trăm đường
                        Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay
Công cha đức mẹ cao dày
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Trưởng thành con phải biết thờ hai thân
Thức khuya dạy sớm chuyên cần
Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.
Trong gia đình truyền thống, người con trai trưởng được hưởng mọi sự ưu đãi của gia đình, tộc họ trong việc thừa kế ruộng nương gia sản của cha mẹ để lại, cho đến lời ăn tiếng nói trong dòng họ cũng nhất nhất được tôn trọng. Được hưởng những ưu đãi đó, người trưởng nam cũng phải có trách nhiệm rõ ràng trong công việc phụng dưỡng, thờ cúng ông bà tiên tổ, gìn giữ gia phong gia đạo, là nơi nương dựa tâm linh cho mỗi thành viên gia đình và tộc họ:
                        Trưởng nam lắm ruộng nhiều trâu
Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam.
Đôi khi sự ưu đãi giữa con cái trong cùng một gia đình quá thiên lệch về phía người con trai trưởng, nhất là khi cha mẹ già cả và có việc phân chia thừa kế thì mâu thuẫn rất dễ nảy sinh, bởi phần thiệt thòi lớn nhất luôn thuộc về người con gái, 

(Xem tiếp bấm vào đây)