Monday, April 15, 2013

TÌNH CẢM GIA ĐÌNH TRONG THƠ, THƠ DÂN GIAN VN




BÙI BÁ TUÂN





(Tiểu luận)

TÌNH CẢM GIA ĐÌNH 
TRONGTHƠ, THƠ DÂN GIAN
 VIỆT NAM


Nhà xuất bản Lao Động, 2012





LỜI NÓI ĐẦU

Thi ca là ngôn ngữ của tâm hồn, lấy nghệ thuật khai thác sử dụng tiết tấu, nhịp điệu âm tiết của các con chữ khơi dậy nguồn cảm hứng trong lòng người đọc. Thi ca bao hàm các thể như thơ, thơ gia huấn, thơ dân gian... và phong phú qua các hình thức diễn ngôn, diễn xướng, ngâm, vịnh, kể, đọc, khẳng định tính phổ quát rộng lớn trong quần chúng lao động. Đồng thời tự bản chất, thi ca là sản phẩm đặc biệt của quá trình lao động trí tuệ và là nhu cầu không thể thiếu trong sinh hoạt tình cảm, trong cuộc sống, lao động và tranh đấu của người Việt. Với nét đặc thù riêng có, ngôn ngữ thi ca trở lên gần gũi với đời sống sinh hoạt thể chất, tinh thần của mọi lớp người trong xã hội và đặc biệt gắn bó với tầng lớp nhân dân lao động, trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành nên nền văn học Việt. Nội dung phản ánh của thơ ca vô cùng rộng rãi, từ những khía cạnh đời sống, sinh hoạt thường ngày mang tính vi mô cho đến cấu trúc vĩ mô của các mối quan hệ con người, xã hội qua việc phản ánh chân thực, sống động những khái niệm cuộc sống, xã hội, lịch sử, và biểu đạt thái độ ứng xử, tình cảm của con người đối với những vấn đề nóng bỏng, thiết thực nhất của cuộc sống, lao động, sinh hoạt giao tiếp.
Lời Mạnh Tử đã bàn: “Thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà, nhà gốc ở thân mình. Như vậy ngoài bản thân ra thì nhà là gốc của cả nước và thiên hạ...”, mà khái niệm thi ca là sản phẩm sáng tạo của trí tuệ mang tính đặc thù của mỗi cá nhân, vì vậy ngôn ngữ thi ca sẽ phát triển và gắn bó mật thiết với các mối quan hệ tình cảm trong gia đình, trong xã hội bởi mỗi một thể chế chính trị hay mô hình phát triển xã hội đều lấy gia đình là nòng cốt, và gia đình lại khởi thuỷ ý thức tự gắn bó trong tâm thức mỗi thành viên (thân), và vai trò gia đình từ xa xưa đã được đề cao đặc biệt. Có thể thấy từ Khổng giáo đã nhận thức rất tường tận vấn đề này. Theo nhà nghiên cứu Quang Đạm trong cuốn “Nho giáo xưa và nay”: “Nói đến cương thường, luân lý, chúng ta đều biết rằng, trong ba cương thì có hai cương là thuộc phạm vi gia đình. Trong năm luân thì gia đình bao gồm ba luân. Chỉ có vua tôi và bạn bè là ở ngoài phạm vi ấy. Như vậy đối với đạo lý Nho giáo, gia hoặc nhà là một phạm trù triết học chính trị rất quan trọng, nắm đúng phạm trù ấy của Khổng, Mạnh là một trong những điều cần thiết bậc nhất để hiểu rõ quan niệm Nho giáo về con người, về đạo đức và về cuộc sống”. Đồng thời Quang Đạm còn chỉ rõ: “... Lấy một cái mốc có ý nghĩa quan trọng nhất theo đạo lý xã hội học của mình mà nói thầy trò Trọng Ni chỉ tính đến nhà, nước, và thiên hạ.... Có thể thấy vai trò của gia đình có gắn bó mật thiết với mỗi cá nhân đến mức nào. Đương thời, nhà văn Ma Văn Kháng cũng đưa ra một mô hình khái niệm về gia đình qua mối quan hệ gắn bó tâm thức con người, ông cho rằng: “Gia đình, cái đơn vị xã hội nhỏ nhất của xã hội loài người, mặc những biến động lớn, nhỏ, mặc sự tan rã có khi của cả một tập thể cộng đồng lớn này khác, vẫn cứ tồn tại và vững bền!”. Các học giả phương tây thì định nghĩa tương đối thiết thực với những đặc diểm của nó, học giả Rodney D.Elliott và Don H. Shamblin đã trình bày trong cuốn sách “Society in transtion”, Preltice Hall, New Jersey xuất bản năm 1992 viết: “Một định nghĩa về gia đình. Các thể chế gia đình và thân tộc trong tất cả các xã hội là những tổ chức người, coi các thành viên của họ là có quan hệ với nhau do tổ tiên, do hôn nhân và do việc nhận con nuôi, điều tiết bằng chuẩn mực sự giao phối sinh học, sự tái sinh sản sinh học và sự xã hội hoá đầu tiên các trẻ em, phân chia lao động gia đình và xếp đặc sự thừa kế tài sản địa vị, danh vị và quyền lực. các gia đình trong mọi xã hội đều hoàn thành mọi nhiệm vụ, hay là chức năng ấy bằng cách các con đường khác nhau. Các xã hội loài người biến đổi nhiều về những vấn đề như người nào được xác định là họ hàng thân tộc... ”
Đặc trưng của mối quan hệ tình cảm trong gia đình cũng là mối quan tâm và trở thành mảng đề tài thu hút nhiều tâm huyết của các tác giả qua từng tác phẩm bằng ngôn ngữ thi ca, với quan niệm tình cảm gia đình là cội nguồn cho mọi hoạt động của cá nhân và cũng là động lực để thúc đẩy phát triển xã hội, gắn liền sự hùng cường của quốc gia, sự bền vững của dân tộc với mối liên hệ tình cảm trong gia đình bền vững.
Trong thơ đương đại, mô hình tình cảm gia đình thường lấy cơ sở hạnh phúc cá nhân (thân) làm chủ thể trữ tình, lấy nguồn cảm hứng chủ đạo cũng như các mối quan hệ tình cảm có ảnh hưởng thiết thực tới hạnh phúc cá nhân làm đề tài phản ánh. Thơ gia huấn, chủ yếu là các bản gia huấn từ thế kỷ XIIIV đến nay còn lưu truyền xuay quanh mảng chủ đề giáo dục mối quan hệ trong gia đình, dòng tộc, theo mô hình gia đình gia trưởng - với các đặc trưng truyền thống, gắn bó chặt chẽ với tác phong nông nghiệp và nền văn minh lúa nước, phát triển trong môi trường cộng đồng làng xã, hội tụ đầy đủ các yếu tố cấu thành một xã hội thu nhỏ, kiểu mẫu của gia đình phụ quyền với vai trò của người đàn ông được đề cao và hưởng nhiều quyền ưu đãi nhất, theo cách thức cha mẹ được quyền quyết định số phận của con cái, theo tư tưởng của Nho gia. Thơ dân gian thường xoay quanh mối quan hệ tình cảm gia đình trong sinh hoạt đời sống, lao động thường ngày của lớp bình dân, chủ yếu là sự phản kháng của người phụ nữ, do ít quyền lực và chịu nhiều áp chế từ gia đình và xã hội, họ gửi gắm tâm tư tình cảm của mình vào những lời ca có vần vè dễ nhớ, dễ truyền khẩu mong giãi bày nỗi niềm của mình.
Thơ, thơ gia huấn và thơ dân gian phản ánh mối quan hệ tình cảm gia đình tuy có khác nhau ở góc độ thể hiện, và mức độ phổ quát, biểu đạt nhưng đều có mối liên hệ mật thiết về thi pháp nghệ thuật và không phải lúc nào cũng tách bạch rạch ròi như một phạm trù hay một khái niệm đơn thuần, với đặc điểm dễ nhận biết và có thể phân biệt qua giọng điệu ngôn ngữ thi ca sử dụng. Nếu trong thơ và thơ gia huấn hướng vào tính trải nghiệm, đúc kết, khái quát hoá sự kiện, sự việc, chú ý đến tính cấu trúc của ngôn ngữ, cô đọng, súc tích, thì ở thơ dân gian do có thiên hướng khai thác triệt để mối quan hệ tình cảm nảy sinh từ cuộc sống gia đình, với đặc thù thiên về phản ánh những tâm tư, tình cảm tốt đẹp, đầy đủ, chi tiết và rốt ráo những nguyên nhân và hệ quả xung đột nảy sinh từ quá trình diễn ra các mối quan hệ tình cảm gia đình, giữa các thành viên trong gia đình một cách nôm na, ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ lưu truyền. Qua các đặc điểm tương đối đó, trong cuốn sách nhỏ này, tác giả tạm quy thơ và thơ gia huấn trong cùng một khái niệm “thơ” theo phạm trù sáng tạo, là đối tượng xuất hiện sự đảm bảo sở hữu cá nhân (tác giả), và khác với thơ dân gian không có sự đảm bảo đó.
Trong thơ ở giai đoạn trước cách mạng, phần lớn nguồn xúc cảm phản ánh những xung đột mang tính bản năng, nặng về khuôn phép giáo điều (thơ gia huấn) và ngôn ngữ thi ca là tiếng nói của số phận vang lên từ những kiếp người bị đè nén, bị kiềm chế đến cùng cực bởi các quy tắc sống buộc phải tuân thủ, nó phản ánh thân phận con người đau đáu khát khao hạnh phúc, hướng tới nhân sinh, như nàng Kiều trong “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Du, như các cung nữ trong “Cung oán Ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, hoặc tâm tư nhớ chồng thao thiết của người vợ ngóng chồng trong “Chinh Phụ Ngâm” của Đoàn Thị Điểm với đặc thù tư tưởng hướng về đại chúng, hay các thi nhân trong phong trào thơ mới với cái tôi bản/cá thể được đề cao thì sau cách mạng, ngôn ngữ thi ca như được lột xác, với lớp lớp những nhà thơ chiến sĩ, cuộc cách mạng gia đình trong văn học dường như được khơi lại, giá trị gốc của gia đình là bản thân được trả về đúng nghĩa, tình cảm tươi mới trong các mối quan hệ gia đình được khai thông, bung oà trên trang giấy với tâm tư tình cảm trong sáng, thuần khiết, sáng tạo đầy dấu ấn cá nhân của chủ thể sáng tạo và cái tôi cá thể đã được thay thế bằng cái tôi tập thể của quần chúng.
Tìm hiểu mối quan hệ tình cảm trong gia đình, biểu hiện qua thơ (các bản thơ gia huấn của các tác gia thế kỷ XIX, XX như Nguyễn Huy Oánh, Bùi Huy Bích và thơ của các tác giả Huy Cận, Nguyễn Bính, Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Đoàn Thị Lam Luyến, hay một số nhà thơ, tác gia khác) và thơ dân gian (trích từ tài liệu khảo cứu về “Mối quan hệ gia đình trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” của Trần Thị Bảy), sẽ giúp chúng ta tìm ra những giá trị đạo lí cổ truyền, cùng văn hoá ứng xử tinh tế, các hình thức phản ứng linh hoạt biểu hiện mối quan hệ tình cảm trong gia đình, đồng thời làm nổi bật và sáng tỏ tính chân lý của truyền thống ứng xử nhân bản, nhân văn của dân tộc Việt ngàn năm bồi đắp dựng xây nên, mà nền giáo dục hiện đại cần lắm sự kế thừa phát triển giữ gìn, bảo vệ và xây dựng văn hoá truyền thống, phù hợp với tốc độ phát triển của thời đại công nghệ mới và kỹ thuật cao hiện nay.
Công trình khảo cứu có thể còn nhiều khiếm khuyết do thời gian và năng lực hạn chế chúng tôi mong nhận được sự góp ý quý giá từ đồng nghiệp và quý vị bạn đọc.
Trân trọng cảm ơn!