Sunday, April 14, 2013

PHẦN 4 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI KỲ NHÀ NGUYỄN


Lê Chiêu Thống - vị vua cuối cùng của triều hậu Lê lên ngôi, ngày 22 tháng 3 năm Chiêu Thống nguyên niên (1787), ban tặng cho vị thành hoàng làng Đồng Tỉnh mĩ tự Nghiêm uy, cương dũng hách trạc đại vương.  Lê Chiêu Thống trị vì, khi ấy xã hội suy thoái trầm trọng, nhà vua tuy nhận ngôi báu nhưng tư chất bạc nhược, phụ thuộc hoàn toàn vào triều đình Mãn Thanh, nội bộ quan chế Đàng Ngoài rệu rã, chính trị mục ruỗng, quyền lực trong triều rơi vào tay Trịnh Bồng và bọn Đinh Tích Nhưỡng đến nỗi Lê Chiêu Thống phải bỏ Thăng Long chạy ra ngoài biên ải. Nguyễn Huệ lại từ Đàng Trong khởi binh ra Thăng Long lập Sùng nhượng công Lê Duy Cận lên làm Giám quốc, rồi ra tay sắp đặt, củng cố lại bộ máy chính quyền trung ương sau đó rút quân trở về Nam.
Năm 1788, với chủ trương mượn uy thế nhà Thanh khôi phục lại quyền bính đương triều, bà Hoàng thái hậu nhà Lê thay mặt triều đình Hậu Lê sang xin quân cứu viện từ triều đình Mãn Thanh. Được sự trợ giúp đắc lực của đoàn quân cứu viện nhưng thực chất lợi dụng cơ hội đó để lập lại ách đô hộ lâu dài trên đất Đại Việt của triều đình Mãn Thanh, sau khi lấy lại được Thăng Long, Lê Chiêu Thống đã trả thù man rợ những người theo Tây Sơn, khiến trật tự xã hội rối loạn, cuộc sống nhân dân càng thêm cơ cực, sự tàn ác của chế độ xâm lược và âm mưu đồng hoá, thống trị lâu dài của triều đình Mãn Thanh theo thời gian thể hiện ngày một rõ, nguy cơ mất nước về tay triều đình nhà Thanh là mối hoạ treo trước mắt mỗi người dân yêu đất Việt.  
Năm 1789, Hoàng đế Quang Trung trực tiếp kéo quân ra Bắc, đánh tan đội quân Mãn Thanh, triều đình nhà Lê tan rã, Lê Chiêu Thống cùng 25 cận thần theo đoàn quân Mãn Thanh thất trận rút về phương Bắc sống lưu vong. Quét sạch giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, ngày 7 tháng 2 năm Quang Trung thứ 2 (1789) hoàng đế Nguyễn Huệ xuống sắc, phong tặng vị thành hoàng Làng Đồng Tỉnh mĩ tự Ân lương, duệ trí, anh nghị đại vương, để ghi nhớ công lao âm phù của vị tướng trẻ triều Lê.
Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh ra Thăng Long, truy sát triều đình Tây Sơn, vua Quang Toản, cùng hai người em phải bỏ thành vượt qua sông Nhị Hà theo sông Xương Giang chạy trốn về Kinh Bắc, bị đám thổ hào bắt được đóng cũi giải nộp cho Nguyễn Ánh. Triều Hậu Lê và triều Nguyễn Tây Sơn đã kết thúc vai trò và vị trí của mình trong dòng chảy lịch sử dân tộc trước sự trả thù tàn bạo và hèn mạt của Nguyễn Ánh.
Tháng 5 năm 1802, Nguyễn Ánh xin tập phong từ triều đình nhà Thanh tước vương và đặt quốc hiệu là Nam Việt, đến năm 1804 nhà Thanh chính thức phong vương cho Nguyễn Ánh và đặt quốc hiệu Việt Nam, năm 1806 Nguyễn vương Phúc Ánh làm lễ xưng đế ở điện Thái Hoà khẳng định sự độc lập tự chủ của triều đại nhà Nguyễn Gia Long, Triều đại nhà Nguyễn độc lập bắt đầu từ đây...
Chung trong dòng chảy lịch sử, địa danh hành chính hai làng Đồng Tỉnh, Xuân Cầu vẫn song hành tồn tại. Làng Huê Cầu với truyền thống khoa bảng vẫn tiếp tục được phát huy. Tấm gương Nguyễn Gia Cát ra ứng thí và đỗ đạt buổi nhà Lê vận mạt, nhà Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Gia Long nối tiếp trị vì, ông đã không nệ danh kẻ sĩ, vẫn hết lòng đem tài lực ra phục vụ đất nước mặc thế thái nhân tình xoay đổi chuyển rời đã khiến địa danh làng Xuân Cầu thêm rạng danh với vinh dự đã góp một phần công sức tài trí của quê hương Nghĩa Trụ vào công cuộc dựng xây quốc hiệu Việt Nam ngày hôm nay...
Đất nước tạm thời qua cơn binh đao, giang sơn thu về một mối, công cuộc đối ngoại được đưa lên thành chiến lược phải quan tâm hàng đầu đối với triều đình nhà Nguyễn Gia Long. Để thực hiện tốt nhiệm vụ ngoại giao, trong thời điểm nhà Nguyễn Gia Long còn đang giai đoạn trứng nước, việc đi sứ cầu phong tỏ lòng thần phục nước lớn nhằm tạm thời giữ hoà hiếu tránh nạn can qua, gây hấn từ phương Bắc, được vua quan nhà Nguyễn Gia Long  tín nhiệm cử đích danh tiến sĩ Nguyễn Gia Cát – Người con của tổng Xuân Cầu - vị tiến sĩ từng trải ba triều đại, một lòng tâm huyết với công cuộc phục hưng thế nước, tự lập dân tộc đã đem hết sở học của mình phụng sự chẳng nề vận nước hưng, vong. Khi này ông đương chức Thiêm sự Lê Chánh Lộ và Đông Các Học Sĩ – trong vị trí Giáp Ất sứ cùng Thượng thư Bộ Binh Tham tri Lê Quang Định trong vị trí Chánh sứ sang thương thuyết với triều đình Mãn Thanh thỉnh cầu họ công nhận sự tồn tại của nước An Nam qua quốc hiệu Nam Việt và phong tước Vương cho Nguyễn Phúc Ánh. (Thượng thư Bộ Binh Tham tri Lê Quang Định (1760-1813), tự Tri Chỉ, hiệu Tấn Trai, người Minh Hương, nguyên quán tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Lúc nhỏ, vì mồ côi cha, nghèo, nên phải theo anh vào Gia Định. Lớn lên, rất ham học, có tài văn thơ, Lê Quang Định kết bạn với Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh, cùng thành lập hội thơ văn gọi là "Bình Dương Thi Xã". Năm 1788, ông đỗ khoa thi mở tại Gia Định khi chúa Nguyễn Phúc Ánh xưng vương và được bổ dụng vào chức Hàn lâm viện Chế cáo. Sau đó, ông sung chức Điền tuấn quan cùng với Trịnh Hoài Đức, Ngô Tùng Châu trông coi việc khai khẩn điền thổ.
Năm 1800, ông được thăng Binh bộ hữu tham tri, rồi cùng với Nguyễn Văn Nhân phụng mạng phò hoàng tử Cảnh giữ thành Gia Định. Đến năm 1802, được thăng Binh Bộ thương thư, sau đó được cử làm Chánh sứ sang Trung Hoa cầu phong và xin đổi quốc hiệu.)
Ở vị trí Phó chánh sứ, Nguyễn Gia Cát đã hoàn thành tốt trọng trách đối ngoại của mình, kết hợp cùng đoàn sứ do Trịnh Hoài Đức được cử đi trước đó (còn chờ đợi tại Quảng Tây), cùng tới Yên Kinh dâng thư cầu phong của Phúc Ánh tới vua Thanh, được chấp nhận. (Trịnh Hoài Đức, còn có tên là An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, đến ở tại đất Trấn Biên (Biên Hòa). Là người thông minh, lại được thụ giáo với bậc cự nho Võ Trường Toản, ông thi đỗ và được bổ làm Hàn lâm viện Chế cáo, rồi sung chức Điền tuấn quan trông coi việc khai khấn đất đai ở Gia Định. Là người giúp vua Gia Long rất nhiều trong các công việc chính trị, ngoại giao, kinh tế và lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng. Năm 1793 được cử làm Đông cung thị giảng để dạy hoàng tử Cảnh, thăng Ký lục dinh Trấn Định (1794), Hộ bộ hữu tham tri (1794), Thượng thơ bộ Hộ (1795), sung chức Chánh sứ cầm đầu phái bộ sang Tàu đưa quốc thư và nộp lại ấn sách nhà Thanh phong cho Tây Sơn (1802), Hiệp tổng trấn Gia Định thành (1812), quyền Tổng trấn Gia Định thành (1820), Thượng thư bộ Lại sung Phó tổng tài Quốc sử quán, kiêm Binh Bộ (1820). Năm 1823, đời Minh Mạng ông dâng sớ cáo lão về hưu và từ trần năm 1825, thọ 61 tuổi, được truy tặng hàm Thiếu phó, Cần chánh điện Đại học sĩ và tên thụy là Văn Khúc, sau được dự thờ tại Miếu Trung Hưng công thần. Mộ ông được chôn tại làng Bình Tước, Biên Hòa.)
Cuộc đi sứ cầu phong thành công, có vai trò lịch sử to lớn đối với công cuộc khẳng định nền độc lập tự chủ và quốc hiệu nước Nam trước các thế lực ngoại bang, (cụ thể trong thời điểm này là triều đại phong kiến Mãn Thanh) bởi khi đó triều đình nhà Thanh đã qua nhiều cuộc nghị bàn trong nội triều và thống nhất liệt nước An Nam (tên gọi Việt Nam vào thời điểm ấy) tương đương một hạt, quận trong bản đồ đô hộ của phong kiến Trung Quốc, chịu sự bảo hộ trực tiếp của triều đình nhà Thanh.
Sự thành công đó một phần nhờ vào tài trí và khả năng ứng biến, đối đáp linh hoạt của Lê Quang Định và tiến sĩ Nguyễn Gia Cát, Trịnh Hoài Đức trên danh nghĩa cựu thần của nhà Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn cùng đoàn sứ thần triều Nguyễn Gia Long, một phần nữa mang tính chất quyết định chính là yếu tố “thiên thời” của vận nước ĐẠI VIỆT.
Ngược lại lịch sử một thời gian trước, khi quân Đại Thanh theo chân Lê Chiêu Thống tràn vào bờ cõi An Nam, bị quân đội Tây Sơn đánh đại bại phải rút chạy về phương Bắc, gây cho triều đình MãnThanh nhiều thiệt hại cả về nhân lực và tài lực, đặc biệt là tham vọng lập lại sự đô hộ lâu dài của đế quốc phương Bắc trên mảnh đất phương Nam này bị đổ sụp hoàn toàn đã đẩy triều đình Mãn Thanh vào thế khó xử, giảm đi phần nào uy thế trước lân bang. Khi Nguyễn Ánh khởi binh lật đổ triều đại Tây Sơn, thì mối nhục thất trận của triều đình nhà Thanh cũng được chia sẻ bớt phần nào, tuy vậy để tỏ rõ cái “oai” nước lớn, khi đoàn sứ An Nam do Trịnh Hoài Đức dẫn đầu sang báo tin chiến thắng của đoàn quân Nguyễn Phúc Ánh thì triều đình Mãn Thanh còn chưa tỏ thiện ý, bắt đoàn chờ đợi tại Lưỡng Quảng, khi đoàn sứ của Lê Quang Định, Nguyễn Gia Cát sang dâng thư cầu phong mới chấp nhận gộp cả đoàn sứ trước nhập đoàn tới Yên Kinh, dâng thư và nhận sắc phong cho quốc hiệu An Nam là Việt Nam (không phải Nam Việt theo nội dung thư của triều đình Nguyễn Gia Long đề đạt).
Sau khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, khẳng định sự độc lập hoàn toàn về lãnh thổ Việt Nam và quyền tự chủ trước thế giới và các nước lân bang, ghi nhớ công lao khó nhọc của các vị công thần đã hạ chiếu ban thưởng và truyền các địa phương lập dựng đền miếu văn bia thờ tự ghi lại công lao cho đời sau sáng tỏ. Ngay chính bản thân Nguyễn Gia Cát, hoàn thành sứ mệnh đi sứ sang Tàu trở về, cũng được Gia Long đặc biệt quý trọng tài năng và học thuật đã xuống chiếu ban cho ông và Đặng Trần Thường tuyển lựa các sự tích bách thần trong dân gian, để dâng vua xét lập thờ tự.
Đất nước trong vòng chưa đầy một thập kỷ đã xảy ra nhiều biến cố trọng đại, với 3 triều đại thay nhau trị vì và công cuộc chống ngoại xâm (nhà Thanh), đã khiến đời sống dân cư các trấn đều lâm vào tình trạng sản xuất đình trệ, công việc tầm tang canh cửi bê trễ vì loạn lạc, cướp bóc, sức người, sức của, sản vật nhất là lương thực bị hao hụt nhiều, dân Nghĩa Trụ cũng lâm vào tình trạng đói kém triền miên. Lại thêm dân phiêu tán các nơi tụ về tránh loạn lạc, xảy ra các tệ tranh giành nhau đất đai canh tác, dẫn đến mâu thuẫn giữa các dòng họ, giữa các làng xã theo thời gian càng thêm gay gắt, việc kiện tụng tập thể xảy ra triền miên, lại thêm tệ quan nha các trấn hùa nhau ẩn lậu ruộng đất, chiếm cứ các bãi bồi màu mỡ ven sông, diện tích canh tác của dân bản xứ bị thu hẹp mãi. Năng suất cấy trồng thấp, thuế không đủ nộp, các quan nha trong trấn thường xuyên cắt cử lính về đốc thúc các vụ thuế, từ đó phát sinh thêm phiền nhiễu trong dân gian. Nguyễn Gia Cát tuy được vua ân sủng từ vua Gia Long, nhưng lương bổng do triều đình chu cấp chỉ đủ duy trì cuộc sống cho gia quyến nơi thôn dã, lại thêm tệ “phép vua thua lệ làng”, nên đám hào mục địa phương vẫn thản nhiên thao túng chi phối xã hội, an ninh các xã thôn. Ngay cả những chính sách an sinh xã hội thiết thực được Nguyễn Gia Cát đề cập như loại trừ tận gốc tệ bắt lính theo định suất các làng, làng nào dân xiêu tán nhiều, thiếu lính, quan quân lại trách cứ làng gần bên phải cấp bù suất đinh của làng mình vào cho đủ số  quân và lấy ruộng đất của những làng không đủ suất lính cắt về cho làng đã phải bù thay suất lính. Tuy được Gia Long thuận ý xuống chiếu dụ phủ toàn dân, nhưng ngay trên quê hương ông vẫn bị đám hào mục nhũng nhiễu thực thi chiếu lệ, gây ra mâu thuẫn chia rẽ các mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư trong các xã làng, làm trì trệ sản xuất nông nghiệp và công việc giao thương buôn bán, ảnh hưởng không nhỏ đến nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp và nghề truyền thống của các xã làng.
Tiêu biểu nhất là vụ tranh chấp đất đai địa giới giữa hai xã Đồng Tỉnh và Huê Cầu của Tổng Xuân Cầu (Nghĩa Trụ). Vụ tranh chấp bãi bồi trên cánh đồng giáp ranh hai xã kéo dài theo trục đường giao thông chính của các xã khiến dân hai làng bị cuốn vào vòng xoáy kiện tụng giữa đám hào trưởng hai làng, các nghề như dệt, nhuộm vải thâm của Huê Cầu và nghề  trồng, bán buôn thuốc lào của Đồng Tỉnh không còn cơ hội phát triển, lâm vào tình trạng lao đao bởi tiền vốn đầu tư được huy động triệt để cho công cuộc theo kiện tới cùng, và tệ ngăn sông cấm chợ của hội đồng kỳ mục hai làng tự đặt ra, dẫn đến sự thất thu thuế của triều đình rất lớn. Sự việc này là bài học lớn trong thực tiễn nông thôn Việt Nam, được Nguyễn Gia Cát khẩn thiết tâu bày lên triều đình nhà Nguyễn, được vua lập tức hạ chiếu ban bố về việc chỉnh đốn minh bạch địa giới giữa các làng xã.
   Nền kinh tế chung đã khó khăn lại càng thêm khốn đốn bởi chủ trương mở thêm nhiều xưởng đúc tiền của triều đình nhà Nguyễn, căn cứ theo bản sớ tâu của Giám đốc sở đúc tiền Bắc thành Lý Gia Du. Việc tích trữ các mặt hàng kim loại như đồng, kẽm bị nghiêm cấm triệt để, quyền thu mua các mặt hàng này được dành cho các quan triều đình có trách nhiệm định giá, điều tiết đã dẫn đến khủng hoảng trầm trọng trong đời sống kinh tế xã hội, hệ luỵ của nó là đồng tiền bị mất giá trị, lúa gạo và hàng hoá vải vóc bán ra rẻ mạt, công sức lao động của người dân làm ra sản phẩm hầu như không có giá trị, vòng luẩn quẩn này cũng gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của dân hai làng Đồng Tỉnh, Huê Cầu.         
Đám hào mục trong làng Hoa Cầu vốn quen ỷ thế nhũng nhiễu hạch sách và lợi dụng đám cùng dân, nhân cơ hội biển lậu ruộng đất bị Nguyễn Gia Cát thẳng thắn phanh phui trước triều đình, liền quay qua rắp tâm tìm cơ hội trả thù Nguyễn Gia Cát, nhân vụ ông cùng Đặng Trần Thường tuyển lựa các sự tích bách thần trong dân gian, có xét nhầm trường hợp của Hoàng Ngũ Phúc vốn là tướng quân phò tá họ Trịnh, nhưng có công giúp dân xứ Bắc, được dân gian truyền lưu, khắc bia ghi nhớ công ơn như một vị nhân thần, liền nhân cơ hội này, kết hợp cùng một số quan lại đương triều có vây cánh, muốn loại trừ ảnh hưởng của Nguyễn Gia Cát, khỏi triều đình, liền dâng biểu tâu vua hạch tội mưu phản nghịch của ông và Đặng Trần Thường là những người chịu trách nhiệm sưu tầm, biên khảo, thẩm tra lại những sự tích bách thần.  Sau vụ việc này, ông và Đặng Trần Thường bị bắt chịu án giam hậu. Gia quyến Nguyễn Gia Cát ở Huê Cầu cũng bị liên đới, nhiều người bị bắt giam theo, những người ngoại phạm thì sống dở chết dở vì đám hào mục trong làng chèn ép, sách nhiễu, nhiều người không chịu nổi phải thay tên đổi họ, bỏ làng đi biệt xứ, lấy đó làm kế giải thoát tạm thời cho mình và con cháu dòng Nguyễn Gia - Huê Cầu,.
      Năm 1813, vỡ đê sông Cái, do lũ thượng nguồn tràn về, ruộng vườn các xứ ở Bắc thành ngập chìm trong biển nước, hoa lợi bị trận lụt cuốn sạch băng, triều đình phải cử đích thân các quan Bắc thành đốc thúc đám nha môn địa phương thân hành phát chẩn cứu dân. Vùng đất Nghĩa Trụ vốn dày đặc hệ thống đầm phá, đồng lầy qua trận lụt trở thành vùng đất chết, không khí tang tóc bao trùm lên mọi xã làng, hai xã Đồng Tỉnh và Hoa Cầu trước kia nổi tiếng trong xứ về công thương, nay rơi vào thảm trạng dở sống dở chết, dân tình ai oán ta thán, ngay cả đám hào phú trong làng qua trận lũ cũng phải lên đường tha phương cầu thực tìm kế sinh nhai.
      Giữa lúc lòng dân hoảng loạn không nơi bấu víu trông chờ, lác đác đây đó trong các xóm thôn bóng dáng các nhà truyền đạo phương tây. Sự xuất hiện của họ trong vùng đất Nghĩa Trụ  như một liều thuốc tín ngưỡng mới, kịp thời thổi luồng sinh khí hồi sinh, xua tan giá lạnh trên mảnh đất vừa trải qua bao biến loạn, can qua.
      Lại thêm tin từ triều đình bay về làm rộn ràng mảnh đất này, chí ít cũng là con cháu tộc họ Nguyến Gia – Huê Cầu, Nguyến Gia Cát và Đặng Trần Thường được tha khỏi tội chết, và thoát khỏi cảnh giam cầm khi nhà vua xét lại sổ thu thẩm, nhớ tới công lao của ông, khi triều đình còn trứng nước, Nguyễn Gia Cát đã phụng mệnh đi sứ và hoàn thành sứ mệnh xin triều đình nhà Thanh sắc phong vương cho Nguyễn Phúc Ánh và quốc hiệu cho nước Nam, nên hạ chiếu tha khỏi giam cầm. Tuy nhiên, để đề phòng tận gốc mầm mống nổi loạn của kẻ sĩ xứ Bắc, triều đình nghị bàn lưu ông ở lại kinh thành chịu sự quản thúc, không cho trở về quê nhà.
Giai đoạn cuối đời Gia Long trị vì, các công thần lần lượt bị khép tội, hoặc phải cách, hoặc phải chịu sự giam cầm, tù đày nhất là những kẻ sĩ Bắc thành, những người đã từng có thời gian quan hệ với triều đình Tây Sơn trước kia. Việc quản thúc Nguyễn Gia Cát, Đặng Trần Thường mà không cho trí sĩ về quê hương bản quán thực chất là hành động nhổ cỏ, bẻ gai dọn quang đường chính trị cho vị vua mà Gia Long lựa chọn truyền ngôi báu.
Tin Nguyễn Gia Cát bị lưu lại kinh sư khiến không ít bậc thức giả thời ấy lên tiếng phê phán, bài xích đường lối, chính sách cai trị của một bậc minh vương đối đãi với triều thần. Tuy vậy khoa thi năm Kỷ Mão, anh tài trên khắp nẻo đất nước vẫn nườm nượp đổ về ứng thí,  mong mang tài học của mình ra giúp dân, giúp nước, tiếp nối truyền thống khoa bảng của Xuân Cầu, Nguyễn Thủ Phác, đồng hương của lưu quan Nguyễn Gia Cát đỗ hương cống khoa này.
Năm 1820 Minh Mạng thế ngôi Gia Long, cơ cấu chính trị trong triều đình và trên diện rộng suốt thời gian ông trị vì có nhiều sự thay đổi, nhà vua đặc biệt chú trọng tới công cuộc chấn hưng nền phong hoá nước Nam, từ quy định màu sắc phẩm phục đến sắc màu áo quần trong từng giai tầng xã hội. Với chủ trương khép chặt cánh cửa bang giao với các nước tây phương, coi tín ngưỡng do các giáo sĩ phương tây đến truyền giảng trong dân gian như một thứ dị giáo, tà đạo, dị đoan, triều đình nhà Nguyễn giai đoạn này hết sức đề phòng, hạn chế. Chính sự hà khắc trong chính sách đối nội, đối ngoại của Minh Mạng khiến bầu không khí chính trị, xã hội của Việt Nam có nhiều xáo trộn, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân. Hậu quả của nó lộ phát ngay sau một năm Minh Mạng nối ngôi trị vì, năm 1821, Thủ ngự trấn Nam Định, Võ Đức Cát (do bị liên đới trong vụ án Thủ ngự ở đồn Ba Thắc phạm tội giết người (là con trai ông) nên phải cách, đã tụ đảng cùng Phan Bá Vành, Nguyễn Hạnh khởi binh giết Thủ ngự Đặng Đình Miễn, Nguyễn Trung Diễn, cướp phủ Trà Lý và phủ Vân Hải lập bản doanh chống lại quan quân triều đình. Trấn thủ Sơn Nam, Lê Mậu Cúc dẫn quân đến vây đánh giải cứu cũng bị Phan Bá Vành chém chết, trong trận này quân khởi nghĩa thu được nhiều súng ống và thuyền bè của quân triều đình.
      Năm 1924, trong nước nhiều nơi hạn hán, mất mùa, cây lương thực, rau màu lâu ngày không có nước tưới chết héo rũ, ruộng đồng nứt nẻ, nạn đói lan ra khắp tứ trấn Bắc thành, lại thêm sự đốc thúc hà khắc của quan thu sưu thuế phu dịch, lác đác một số nơi dân đói khát tụ tập loạn đảng hùa theo cuộc khởi nghĩa (lúc này do Phan Bá Vành làm thủ lĩnh).
      Ở phủ Thuận An, huyện Văn Giang, dân nhiều làng cũng ngầm nổi dậy hưởng ứng theo trào lưu cuộc khởi nghĩa, một số dân đinh hai làng Đồng Tỉnh và Xuân Cầu, do bị đám cường hào trong làng bức ép nhiễu nhương quá mức chịu đựng, cũng rủ nhau bí mật bỏ làng theo đám quân khởi nghĩa của Phan Bá Vành đi đánh chiếm các lị sở. Trước tình trạng dân đinh nổi loạn ngày một nhiều, các hương lý, nha huyện hầu như bất lực trước ngọn lửa khởi nghĩa đang hừng hực dâng cao trong các hương thôn, quan Tổng trấn Bắc thành Lê Chất phải đem tình trạng thực của dân tình cực khổ bởi nạn hạn hán mà đám quan nha phủ huyện sợ bị liên luỵ sẽ phải cách không dám lập án khám thiên tai tâu báo lên triều đình.
Trước tình hình như vậy, để yên lòng đám loạn dân và từng bước ly gián tiêu diệt mầm mống cuộc khởi nghĩa, Minh Mạng truyền lệnh cho các trấn Bắc thành lập án khám, xét từng bậc thiệt hại của dân mà tha thuế. 
      Khi triều đình xét án khám trấn Hải Dương, thấy trong 13 huyện dân đói xiêu tán hết 108 làng, ruộng bỏ hoang hết 12.700 mẫu, thuế vụ đông năm trước thu được, Minh Mạng liền xuống sắc cho giảm thuế ruộng các trấn Định Tường, Sơn Nam, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, riêng trấn Định Tường dân đã nạp thuế xong, liền sắc dụ cho quan trấn phải hoàn lại thuế theo mức giảm tương đương các trấn khác.
      Năm 1825 với truyền thống hiếu học vốn có của làng Xuân Cầu, giữa cảnh xã hội nhiễu nhương, dân tình đói khát, cướp bóc nổi lên khắp mọi trấn xứ, tầng lớp nho sinh Xuân Cầu vẫn miệt mài, kiên trì đèn sách ứng thí, khoa Ất Dậu, Minh Mạng thứ 6, hai cử nhân làng Xuân Cầu được vinh danh là Tô Ngọc Huyền (sau làm quan tới chức Đại lí tự, Viên ngoại lang), và Tô Trân.
      Năm 1826, khi cao trào của cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành lên tới đỉnh điểm, quan tổng trấn Lê Chất, đang kinh lược tại vùng Thanh, Nghệ phải tâu xin triều đình cử thống chế Trương Phúc Đặng dẫn binh về huyện Giao Thuỷ vây ráp, quân Võ Đức Cát thua chạy về vùng An Quảng, tới làng Đông Hào quân triều đình mới bắt được Võ Đức Cát. Một số nghĩa binh của Đồng Tỉnh, Xuân Cầu trước kia bỏ làng theo Võ Đức Cát, lần lượt tan rã trở lại quê hương du nhập theo nhiều nghề phụ như các nghề rèn, đúc nông cụ, trạm trổ gỗ, mộc.v.v..
      Khoa thi Bính Tuất năm 1826, cử nhân Tô Trân tiếp tục ứng thí, đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ, nhậm chức tuần phủ. Tạm biệt quê hương đi làm quan, năm ấy quan tuần phủ đã 47 tuổi, vốn từ nhỏ chỉ quen đèn sách và tư tưởng nho gia, sống cùng mẹ già khuya sớm tảo tần trong nếp nhà tranh, đêm ngày trông nom vườn ruộng, nay thi đỗ, được triều đình bổ dụng nhậm chức tuần phủ Định Tường, công việc trong phủ được ông xử sự công tư phân minh được coi là một vị quan thanh liêm đương triều, giữ trọng trách quan tuần phủ chăm nom dân tình một tỉnh nhưng cuộc sống của ông vẫn theo nếp xưa, thanh bần, tằn tiện không xa hoa lãng phí.
 Năm 1833 được điều chuyển sang nhậm chức tuần phủ Vĩnh Long, khi ấy quân khởi nghĩa Phiên An do Lê Văn Khôi, Lê Duy Lương, Lê Duy Nhiên cầm đầu đương thế mạnh, quân khởi nghĩa công khai phát hịch đi các tỉnh chiêu dụ nhân dân nổi lên hưởng ứng, Tô Trân xuất thân từ kẻ sĩ xứ Kinh Bắc chưa quen trận mạc, chinh chiến lại đang lúng túng chưa kịp quen với thổ nhưỡng, phong tục Đàng Trong nay bị làn sóng người của quân khởi nghĩa Phiên An ào đến vây đánh, tỉnh thành Định Tường mất, ông cùng quan án sát Ngô Bá Toàn dẫn quân triều đình tiếp cứu không kịp. Sau trận này, ông và quan án sát Bá Toàn phải cách làm lính sung quân hiệu lực của triều đình.   
      Phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp các huyện, tỉnh nông thôn, miền núi, trải dài từ miền Bắc tới miền Trung, miền Nam. Phong trào khởi nghĩa lan theo diện rộng khiến triều đình nhà Nguyễn lúng túng, liên tục phải điều binh đi giải cứu các tỉnh thành bị quân khởi nghĩa chiếm đoạt, tốn kém tiền của, sức dân vô cùng, lại thêm nạn vỡ đê gây ngập lụt, khiến mùa màng thất bát liên miên, đời sống dân các trấn Bắc Ninh, Hải Dương, Sơn Tây và một số tỉnh lân cận bội phần khó khăn, xã hội rối ren chao đảo. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, Lê Duy Lương, Nồng Văn Vân, Nguyễn Khắc Hoà, Bế Văn Đàn... nổ ra thời kỳ này có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến cuộc sống, nhận thức xã hội mỗi người dân trong các tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, Hà Tiên, Phiên An, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng... Tổng Xuân Cầu (Nghĩa Trụ) khi ấy trở thành mật cứ của các toán quân khởi nghĩa, đám kỳ hào, nha dịch các làng như rắn mất đầu, hoang mang sợ hãi, hễ quân triều đình về vây quét tặc đánh phá rồi rút đến đâu, quân khởi nghĩa lại xuất hiện, hoạt động lại ở đó. Sau nhiều lần tiễu quân khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Công Trứ liền tâu sớ về triều đình xin khép tội đám lý dịch những làng có người theo quân khởi nghĩa mà không khai báo, khi ấy hoạt động của nghĩa quân mới bị cô lập một phần. Tháng 4 năm 1833, quân triều đình được mật báo của đám lý dịch, liền kéo từ Hải Dương và Bắc Ninh về, hội nhau bất ngờ vây quét huyện Văn Giang, bắt chém được hơn 30 nghĩa sĩ, từ đó phong trào ứng nghĩa ở Nghĩa Trụ tạm thời lắng xuống.
      Một số dân binh Làng Đồng Tỉnh và Xuân Cầu sau vụ trấn áp này của triều đình rủ nhau bỏ làng phiêu tán, tập bè đảng ngược dòng sông Nghĩa Trụ đi các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang tìm cơ hội ứng nghĩa. Nhóm người Đồng Tỉnh ngược sông di cư đến Thái Nguyên do Trần Thiên Hạo và Lê Tư dẫn đầu ra mắt thủ lĩnh Nồng Văn Vân tại châu Bạch Thông, được sung vào đội quân vây đánh đồn Chợ Mới (dòng dõi Trần Tự Khánh ở Đồng Tỉnh tính đến đời Trần Thiên Hạo là đời thứ 27). Trận đánh đầu tiên diễn ra ác liệt, lãnh binh Bắc Ninh Trần Văn Duy thống lãnh quân triều đình, dàn quân đánh rát, bị quân khởi nghĩa đánh trả quyết liệt, quân Trần Văn Duy phải rút chạy, Trần Văn Duy phải cho Nguyễn Đình Phổ chạy giấy về triều xin tội cựu. Nhóm trai đinh làng Xuân Cầu do Lê Thông dẫn đầu phiêu dạt đến Lạng Sơn sáp nhập cùng cánh quân của thủ lĩnh Lưu Trọng Chương, liên tục vây lấn đánh phá quân triều đình, gây cho triều đình nhà Nguyễn nhiều tổn thất.
      Tháng 12, giặc ngoại bang (Xiêm) chuyển quân vào đánh Nam Vang, cánh quân Gia Định của triều đình kéo lại trợ chiến nhưng Nam Vang vẫn thất thủ, Quân Xiêm thừa thế chia hai hướng đánh xuống Châu Đốc và An Giang.
      Triều đình nhà Nguyễn liên tục phải điều quân di chuyển đi các trấn, đàn áp các cuộc nổi dậy của nông dân trong cả nước, rồi chống lại giặc ngoại bang thừa cơ xâm lấn cướp đất, chi phí cho các cuộc hành binh vây ráp rất nặng nề, khiến nền kinh tế  lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, lại thêm nạn lũ lụt do các cửa sông bị bồi lắng không được nạo vét cải tạo gây ra nhiều thiệt hại về người và của, cùng chế độ bắt phu phen phục dịch nặng nề quá mức càng đẩy cuộc sống của nông dân vào cảnh lầm than. Ngay cả trấn Sơn Tây thuộc miền thượng du, thời gian này cũng chịu cảnh vỡ đê thường xuyên đẩy người dân vào thảm trạng đói không có ăn, không có tiền nộp thuế sưu, tất cả những tác nhân đó khiến ngân khố nhà nước cạn kiệt, buộc triều đình nhà Nguyễn phải mở thêm các cuộc đúc tiền bù vào ngân khố. Đồng tiền giảm đi giá trị thực, khiến cuộc sống của người nông dân chịu nhiều thiệt thòi, nhiều ngành nghề như buôn bán nhỏ, sản xuất thủ công, các làng nghề đóng cửa hàng loạt, nhiều nghề mới du nhập về có nguy cơ mất đi vĩnh viến. Nghề trồng cây thuốc lào ở Đồng Tỉnh và nghề nhuộm thâm của làng Xuân Cầu cũng trên đà mai một, số các hộ gia đình trong làng tham gia vào sản xuất các mặt hàng này giảm đi đáng kể, chỉ còn lại một vài họ lớn như họ Đào ở Đồng Tỉnh, họ Quản, họ Lê  ở Xuân Cầu có sẵn tiềm năng kinh tế mới duy trì được.      
Con đường học hành lập thân của các nhà nho ở Xuân Cầu không bị bối cảnh chung của xã hội chi phối mà đi xuống, trái lại chính trong điều kiện xã hội như vậy đã tạo cho các nhà nho lí trí vươn lên phía trước, đem tri đức của mình phục vụ cho công cuộc bình trị an sinh xã hội.  Năm Giáp Ngọ (1834), Nguyễn Đức Huy, người làng Xuân Cầu đỗ cử nhân, được bổ nhiệm làm quan Án sát tỉnh Cao Bằng.
Phong trào nông dân khởi nghĩa đến hết thời vua Minh Mạng đã đi đến thời điểm thoái trào, tuy vậy một số nơi trong nước nhất là các vùng cao, vẫn còn những cuộc nổi dậy lẻ tẻ nhưng đều bị quân đội nhà Nguyễn kịp thời vây quét, triệt phá. Năm 1840 Minh Mạng truyền ngôi cho Thiệu Trị, xã hội tương đối thái bình, chính sách đối nội, đối ngoại của Thiệu Trị linh hoạt, mềm dẻo khiến lòng dân trong nước yên ổn, các nước ngoại bang đều dần thuần phục, ít binh biến can qua. Chính sách bế quan toả cảng từ thời Gia Long vẫn được Thiệu Trị duy trì và xúc tiến thực hiện triệt để hơn, việc kiểm soát chặt chẽ các cửa ải, cửa sông, các vũng biển được đẩy lên hàng đầu qua công tác lập sở buôn bán tại miền thượng du đồn Đa Lộc tỉnh An giang, định kỳ 2 lần trong một tháng cho phép người Hán, Thổ, Tàu, Chàm tới buôn bán giao thương. Lại lập ra hệ thống 7 đồn dọc bờ biển tỉnh quảng Nam nhằm trấn giữ, phòng bị các cửa biển khỏi sự nhòm ngó của các nước phương Tây, những dự liệu mang tính thời cuộc này của Thiệu Trị rất chuẩn xác, bởi cuối thập kỷ này rất nhiều lần các tàu phương Tây (Anh) ghé vào cửa Hàn trình quốc thư xin được mở lối thông thương, nhưng thực chất là những tàu hoa tiêu của phương Tây vào do thám, lập địa đồ chuẩn bị cho cuộc chinh phục mở rộng đế quốc của họ sang các nước Đông Nam Á. Bên cạnh chiến lược phòng thủ quốc gia, nền công nghiệp trong nước cũng được Thiệu Trị chú trọng đầu tư, vào tháng 7 năm 1844 Thiệu Trị đã cho du nhập một chiếc tàu hoả từ phương tây về với giá 230000 quan tiền.
Đời sống dân cư được cải thiện nhiều, các làng nghề nhờ có chính sách khoan hoà của Thiệu Trị lại bắt đầu nhộn nhịp bán mua, số dân lưu tán trở lại quê hương ổn định cuộc sống ngày một đông, năm 1846, bộ Hộ làm sổ quản lý số đinh của tỉnh Bắc Ninh thống kê được 63.774 dân đinh, số dân đinh hai làng Xuân Cầu và Đồng Tỉnh lên tới hàng nghìn.
Thiệu Trị mất, Tự Đức nối ngôi năm 1847, những năm đầu triều Tự Đức, tình hình xã hội tương đối yên ổn, dân cư chăm chỉ làm ăn, chế độ khoa cử được chú trọng đúng mức, và đặc biệt là chính sách chăm lo phát triển tầng lớp sĩ nho trong xã hội của ông đã khuyến khích kịp thời phong trào học tập ở các địa phương và những làng có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. Khoa thi Canh Tuất (1850) Tô Ngọc Nữu học trò làng Xuân Cầu đỗ cử nhân, được giao làm Giáo thụ, sau thăng tới chức Đốc học Nam Định. Khoa thi Nhâm Tý (1852). Nguyễn Mệnh Phương người làng Xuân Cầu cũng đỗ cử nhân.
 Sắc dụ của vua Tự Đức năm 1856, hướng dẫn quan lại địa phương muốn xin trích ruộng công hoặc ruộng tư đặt làm ruộng hương học để nuôi thày dạy học con em trong làng được ban bố rộng rãi trong cả nước, thúc đẩy không khí học tập các tầng lớp dân cư khắp mọi miền. Ruộng học ở làng Xuân Cầu và Đồng Tỉnh được phôi thai hình thành từ sắc dụ này.  
Mối quan hệ và sự phân hóa giữa các tầng lớp giàu nghèo, nông dân và chủ tô trong xã hội cũng được triều đình điều chỉnh qua bản lệ định “Cày mướn ruộng” (Nhà giàu có ruộng cho dân cày mướn, gặp năm mất mùa, triều đình giảm thuế, người cày mướn cũng được chiếu theo đó mà giảm số lúa nạp cho chủ ruộng), nhờ vậy đời sống dân cày được cải thiện nhiều.
Từ năm 1857, đời sống chính trị, xã hội Việt Nam biến đổi nhiều, đặc biệt là các biến cố, sự kiện nảy sinh từ việc nhiều nước phương Tây liên tục cho tàu vào quấy nhiễu, đe doạ gây hấn với Miền bắc. Nguy cơ chiến tranh lơ lửng đe doạ triều đình nhà Nguyễn, đòi hỏi cần phải có một chính sách đối ngoại thiết thực, sáng suốt, thức thời, mềm dẻo. Nhưng thay vì những đối sách phù hợp với tình hình lúc đó, lời thỉnh cầu bang giao của phương Tây gửi tới đều bị phía triều đình nhà Nguyễn thẳng thừng từ chối. Sau những phát đại bác đầu tiên của tàu quân viễn chinh phương Tây nã thẳng vào vũng biển Sơn Trà tỉnh Quảng Nam, bộ máy triều đình nhà Nguyễn mới thực sự hoảng hốt, hoang mang. Các quan đốc chiến quen lối đánh công thành bằng giáo, gươm và súng bắn đá, nay hết sức bối rối trước sự xuất hiện của những toán quân viễn chinh phương Tây với lưỡi lê và súng thép, tàu đồng.
Súng thần công, thứ vũ khí hộ quốc, niềm tự hào của triều đình nhà Nguyễn thời bấy giờ, vẫn kiêu hãnh ngóc đầu sừng sững ngó ra phía cửa Hàn tỉnh Quảng Nam, phút chốc biến thành thứ đồ chơi xa xỉ trước nền văn minh phương Tây xa tít tắp ùn ùn đổ ập tới vũng Sơn Trà.
Những phát đại bác rền vang báo hiệu bắt đầu cho một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn của đoàn quân viễn chinh Pháp trên đất Việt Nam, xã hội phong kiến Việt Nam như ngọn cỏ cớm nắng trước cơn gió đầu trận bão kinh hoàng, nghiêng ngả. Tin mất các tỉnh miền tây Nam Bộ vào tay Pháp lần lượt bay về kinh thành theo trật tự của vết dầu loang khiến vua quan nhà Nguyễn hoảng hồn, đời sống dân tình xáo trộn, nhà nhà đóng chặt cửa chờ đợi một tai hoạ bi thảm sẽ ập xuống cuộc sống của họ bất cứ lúc nào.
Không lâu sau, những sự hồ nghi, lo sợ của người dân Việt đã trở thành sự thật, đất nước sa vào tay Pháp, chịu sự đô hộ mọi mặt từ văn hoá đến chính trị, kinh tế . Tuy triều đình nhà Nguyễn đã có nhiều cải cách nhưng vẫn không thể theo kịp tốc độ phát triển của giai đoạn lịch sử bấy giờ, đành chấp thuận thoả hiệp, nhượng bộ cùng đội quân viễn chinh Pháp nhiều điều khoản có lợi cho Pháp, như chấp nhận bồi thường chiến phí tới 1.000.000 quan tiền, cắt dâng 3 tỉnh miền đông Nam Bộ cho Pháp đặt đồn trú với niềm tin ngây thơ rằng nước Đại Pháp thực dân sau một thời gian sẽ cảm thông cùng nỗi khó khăn của triều đình nhà Nguyễn và sự nghèo khó của dân nước Việt mà giảm bớt sự gây hấn, lần lần tiếp tục thương thuyết xin lại những phần đất đã bị người Pháp chiếm mất...
Có nơi tập kết chỉnh trang quân bị, người Pháp tiếp tục hướng mục đích của các cuộc thương thuyết tới nhiều mục tiêu khác. Với người dân, được tiếp cận với nền văn minh Tây phương, người Việt Nam hiểu ra phần nào sự thật về sự trì trệ của mình. Hoạ mất nước đã trở thành sự thật, sự bi thảm của kiếp nô nệ, trước nền văn hoá nô dịch đã treo sừng sững trên đầu mỗi người dân. Để khắc phục, phong trào học các thứ tiếng nước lân bang, nhất là tiếng Pháp được các quan lại triều đình phát triển rầm rộ, không những thế, triều đình nhà Nguyễn còn ban chiếu dụ thành lập và đưa các đoàn học sinh theo đoàn chân sứ bộ đi khắp các nước học tập tiếng nói, chữ viết của họ, lấy đó làm phương kế cứu nước lâu dài.
Khoa thi năm Mậu Thìn, Tự Đức thứ 21 (1868) Xuân Cầu được vinh danh cùng tân khoa phó bảng Tô Huân, được triều đình bổ nhiệm làm tri huyện Thanh Trì, rồi được đặc cách vào triều đình Huế nhậm chức phó đô ngự sử.
Trận vỡ đê kinh hoàng năm 1871 đã giết chết hàng ngàn nhân mạng, hàng vạn mẫu ruộng, gây cảnh lụt lội liên miên trong tứ trấn xứ Bắc, tổng Xuân Cầu cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, nước tràn dâng theo dòng sông Nghĩa Trụ cuốn bay nhà cửa, hoa màu nhiều gia lâm vào nạn đói.
Trong tầng lớp sĩ phu và nhà nho cũng có nhiều biến chuyển, mâu thuẫn gay gắt. Một số nhà nho không chịu sống cảnh cơ đồ sắp mất, văn hiến suy đồi, đành thúc thủ chờ thời, nhiều người chọn giải pháp trí sĩ về quê hương vui thú điền viên. Một số danh sĩ tâm huyết với thời cuộc lại chọn giải pháp tiếp tục con đường khoa cử tiến thân, tự tìm cho mình lối sống chốn quan trường thực sự hữu ích cho dân, cho nước.
Tiêu biểu cho phái nho sĩ thứ hai này là tầng lớp nho sinh làng Đồng Tỉnh và làng Xuân Cầu từ thời Lê đã nổi tiếng trong nước làng võ, làng văn. Giữa thời điểm vận nước đương suy, xã hội tao loạn, nhiễu nhương, đất Đồng Tỉnh lại được vinh danh cùng vị quan Phó bảng tân khoa Phan Văn Ái, khoa thi Canh Thìn (1880) ông là người đầu tiên mở vận khoa cử cho làng Đồng Tỉnh, (khoa thi năm Bính Tí (1876) ông đỗ cử nhân hạng thủ khoa, vào Huế nhậm chức Tri huyện Hương Trà năm 27 tuổi), được bà Từ dụ gán gả công nương Tôn Thị Phan cho theo ông làm kế thất (Công nương Tôn Thị Phan là con gái vua Thiệu Trị).
      Năm 1883 vua Tự Đức mất, di chiếu cho Ứng Chân nối ngôi, lấy hiệu Dực Đức, được hai ngày thì ông vua này bị truất, Ngyễn văn Trường và Tôn Thất Thuyết đề nghị bà từ dụ - Hoàng Thái hậu đưa Lãng quốc công là con thứ 29 của vua Thiệu Trị lên thay lấy hiệu Hiệp Hoà, Hiệp Hoà lên ngôi, vì mối thù bị Phan Văn Ái phạt đánh 30 trượng khi trước, đã thuyên chuyển Phan Văn Ái đi nhậm chức Tri huyện Quảng Điền.
      Hiệp Hoà âm mưu cấu kết với Pháp, bị Thuyết và Trường phế đi, lấy Dưỡng Thiện lên thay, hiệu là Kiến Phúc, do vua tuyên bố sẽ chống lại Thuyết và Trường lên bị đầu độc chết, Ưng Lịch được nối ngôi lấy hiệu Hàm Nghi.  
      Vua Hàm Nghi lên ngôi, xã hội Việt Nam ngập chìm trong bầu không khí xô bồ náo loạn, nội bộ triều đình chia thành ba phe bảy phái, lăm le tiếm đoạt quyền vị của nhau, lại thêm sức ép của nhà cầm quyền Pháp liên tục lấn lướt triều chính, đòi hỏi phía triều đình phải đáp ứng thỏa mãn nhiều điều kiện phi lí do phía Pháp đặt ra. Hiệp ước, bãi binh 1883 do vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn kí cùng đại diện chính phủ Pháp, như ngọn gió thổi hơi dầu nóng qua đám lửa, hậu quả của nó không những biến nhân dân Việt Nam và cuộc chiến đấu phòng vệ giữ nước chống sự xâm lược, nô dịch từ các thế lực ngoại bang của họ từ thế chính nghĩa trở thành phi nghĩa, đẩy các viên tướng triều đình đang chiến đấu trên khắp mọi miền đất nước vào lối cụt không đường thoát, buộc phải chịu khom lưng cúi mình làm thân nô nệ cho Pháp, hoặc nổi lên tụ nghĩa tạo phản, chịu tiếng bất trung với triều đình. Trên khắp dải đất của đất nước hình chữ S nhỏ bé, các đám cháy từ ngọn lửa khởi nghĩa lan tỏa hừng lên liên tiếp.
 Tiêu biểu cho làn gió phản kháng này là cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Đinh Gia Quế  và Nguyễn Thiện Thuật xướng nghĩa ở Hưng Yên. Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Đinh Gia Quế  và Nguyễn Thiện Thuật vào những năm cuối thế kỷ này đã có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống an ninh, xã hội và đời sống chính trị của nhân dân Nghĩa Trụ. Tinh thần phản kháng và ý thức thức tỉnh trước thời cuộc, trước chính nghĩa của người dân Đồng Tỉnh, Xuân Cầu đã có biến đổi tiến bộ rõ rệt trong nhận thức, không khí khởi nghĩa luôn hừng hực lan tỏa vào trong từng ngõ ngách cuộc sống, trong mọi tầng lớp cư dân, đến cả đám hào mục, hương lý vốn có truyền thống nhiễu nhương, hạch sách dân chúng thời điểm này cũng buộc phải thay đổi cách cai trị, không còn dám ra mặt đàn áp dân đen như trước nữa.
Ở mỗi ngõ xóm tổng Xuân Cầu, không khí khởi nghĩa theo bước chân những người nông dân trào ra các cánh đồng, lan tỏa đến từng cụm cỏ cây trong rừng lau sậy, tầng lớp các vị đồ nho đương đóng cửa chờ thời đem tài giúp dân giúp nước cũng chịu sự tác động mạnh mẽ. Tiêu biểu như cử nhân Tô Ngọc Nữu làng Xuân Cầu, (từng giữ chức quyền Đốc học tỉnh Nam Định nên đương thời dân trong tổng và các môn sinh của ông vẫn gọi cụ Đốc Nam), khi Pháp kéo sang đặt ách đô hộ, triều đình nhà Nguyến từng bước xẹp dần ý chí kháng cự, cụ đã mượn cớ mẹ già đau yếu xin trí sĩ về làng mở lớp dạy học, chăm sóc mẹ già. Khi ngọn gió khởi nghĩa của Tán Thuật thổi đến, cụ đã vận động các nho sinh, môn đồ của mình nhiệt tình hưởng ứng theo cụ Ngô Quang Huy, đốc học Bắc Ninh (và cũng là bạn tâm giao của Tô Ngọc Nữu), khi này đã thành danh tướng nổi tiếng cơ mưu phò giúp Nguyễn Thiện Thuật chiêu binh mộ nghĩa. Được sự khuyến khích của thầy học, lớp học trò tổng Xuân Cầu rầm rộ theo nhau ra ứng nghĩa giúp đời cứu dân cứu nước.    
 Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, hiệu triệu tầng lớp nho sĩ trong cả nước chung sức kháng chiến đánh đuổi quân Pháp xâm lược. Phong trào nghĩa quân Bãi Sậy khi này đang xuống rất nhanh bởi vị thủ lĩnh Đinh Gia Quế, linh hồn của cuộc khởi nghĩa đã mất. Tuy đường lối hoạt động và chủ trương khởi nghĩa của các đầu lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy vẫn duy trì tốt, phát triển tích cực trên bề rộng, nhưng lại thiếu sự thống nhất, phối hợp tác chiến giữa các phe nhóm với nhau. Yếu điểm này lộ rõ bởi phần lớn các đầu lĩnh của nghĩa binh Bãi Sậy có xuất thân từ tầng lớp hàn Nho, chịu sự chi phối hạn chế nhiều mặt do nhận thức thời cuộc của họ bị quyết định bởi luồng tư tưởng Nho đạo, khiến cuộc khởi nghĩa lâm dần vào thảm trạng tan rã, thoái trào. Để cứu vãn phong trào tạo tiền lệ cho các cuộc khởi nghĩa sau này trên khắp mọi miền, rất cần thiết có sự xuất hiện của một vị thủ lĩnh đủ tài đức, có sức lôi cuốn thu hút được người tụ nghĩa, Nguyễn Thiện Thuật được triều đình nhà Nguyễn và vị tân vương Hàm Nghi đặt nhiều kỳ vọng, bởi ông là viên quan tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương nhất ở Bắc kỳ. Trước nguy cơ tan rã của nghĩa quân Bãi Sậy hệ lụy từ cái chết của thủ lĩnh Đinh Gia Quế, vua Hàm Nghi liền phong cho Nguyễn Thiện Thuật chức Bắc kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần, điều cánh quân của ông từ Hưng Hóa trở về Bãi Sậy nhằm làm hạt nhân tập hợp quan lại tiến bộ và dân chúng ở Bắc kỳ xung quanh ngọn cờ kháng Pháp. Nhận chiếu mệnh từ triều đình, cụ thể từ sự chỉ đạo của vua Hàm Nghi, ông trở thành lãnh đạo tối cao của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy hưởng ứng phong trào Cần Vương kháng Pháp, nghĩa quân Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật đã áp dụng rất thành công chiến thuật đánh du kích, dựa vào sự ủng hộ của dân chúng, lúc ẩn lúc hiện, đánh úp đồn trại Pháp trên đường Hà Nội - Hưng Yên - Hải Dương, hay dựa vào địa thế sình lầy, lau sậy um tùm dễ tiến, dễ thoái của căn cứ, để chống Pháp càn quét vào Bãi Sậy bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài.
Tổng Xuân Cầu trở thành địa điểm tập hợp lực lượng chủ chốt của các toán nghĩa binh Bãi Sậy dưới sự lãnh đạo tài tình của Đức Dũng, Quản Huống, Quản Cọp, Lê Tung, Trần Tâm (Trần Tâm theo phả hệ của gia tộc Trần tại hương Đồng Tỉnh tính từ đời ông thuỷ tổ Trần Tự Khánh về mở đất là đời thứ 29 của vị kiến quốc vương) đã dựa vào hệ thống sông ngòi, đầm phá và rừng lau sậy rậm rạp, hiểm hóc, lầy thụt, liên tục nống quân qua sông Nghĩa Trụ sang phục binh mạn chợ Cái, đánh phá uy hiếp đường giao thông từ Hà Nội đi Hải Dương, Hải Phòng gây cho quân Pháp nhiều tổn thất. Nhờ địa thế thuận lợi này, dù nghĩa quân liên tục bị cánh quân do thiếu tướng Pháp Donnier kết hợp cùng quan tổng đốc Hải Dương và tuần phủ Hưng Yên dốc quân vây đánh hòng khủng bố tinh thần nhân dân trong vùng và triệt phá tận hang ổ nhóm khởi loạn tổng Xuân Cầu và các xã tổng, phủ huyện, tỉnh lân cận, nhưng ngược lại ý muốn chủ quan của quân Pháp và lũ quan lại thân Pháp, chúng càng đánh càng cay đắng chịu thêm nhiều thiệt thòi, hao binh tổn tướng mà không thể triệt hạ được phong trào Bãi Sậy. 
      Phong trào khởi nghĩa và ứng nghĩa theo Nguyễn Thiện Thuật trên quê hương của Phan Văn Ái (vị phó bảng, người khai khoa cử cho làng Đồng Tỉnh khi này đương nhiệm chức tri huyện Quảng Điền) hết sức rầm rộ, khiến vị Phó bảng đang gặp nhiều trắc trở trên đường quan lộ rất quan tâm, muốn cáo quan về ứng nghĩa xây dựng phong trào cùng Nguyễn Thiện Thuật. vì Tôn Thất Thuyết tuy là chỗ thân tín, nhưng không thể trực tiếp ra mặt che chở cho Phan Văn Ái trước đám ô quan mang danh trụ cột triều đình nhưng lại chằm chặp ôm chân người Pháp, bán rẻ đất nước, chỉ chờ cơ hội sơ hở của các quan đồng triều để tâng công cùng quan Pháp.
       Trước khi cùng vua Hàm Nghi chủ trương phát động phong trào Cần Vương, Tôn Thất Thuyết đã muốn dùng lá bài Phan Văn Ái vào mục đích lâu dài, đành đi một nước cờ mạo hiểm nhưng rất cao siêu trong ván bài chính trị tay ba giữa đám bồi thần quen thói vinh thân phì gia và đại diện chính phủ Pháp cùng phái kháng Pháp bằng việc kín đáo điều chuyển Phan Văn Ái và nhiều vị thân quan thuộc phe phái của mình ra Bắc nhậm chức tạo vây cánh, gây ảnh hưởng thanh thế cho phái kháng Pháp trên toàn cõi Bắc kỳ. Riêng Phan Văn Ái được Tôn Thất Thuyết chủ trương đề bạt nhậm chức tri phủ Lý Nhân (thống hạt 5 huyện, Nam Sang, Duy Tiên, Bình Lục, Kim Bảng và Thanh Liêm) với mục đích gây dựng cơ sở hoạt động đầu não cho các phong trào kháng Pháp sau này của triều đình, bởi trong tầm mắt quân sự của Tôn Thất Thuyết trong một chuyến ra thăm quê hương của vị tân khoa phó bảng, tế tử của vua Thiệu Trị, đã nhìn nhận ra tầm quan trọng trong chiến lược phát triển quân sự của dải đất đồng bãi ven rừng lau sậy này.
      Chung cánh đồng với làng Đồng Tỉnh, giới nho sinh làng Xuân Cầu sau một thời gian hoang mang trước bao biến đổi của xã hội, lại bị choáng ngợp trong ánh hào hoa của văn minh Tây phương đem đến, được ngọn lửa Cần vương thổi qua đã hồi sinh lại phần nào trí lực, khoa Bính Tuất (1886) Tô Ngọc Sướng người làng Xuân Cầu đỗ cử nhân, nối dài truyền thống hiếu học trên đất Xuân Cầu.
      Phan Văn Ái ra làm tri phủ Lý Nhân chưa được bao lâu, những ý đồ sâu xa của Tôn Thất Thuyết gửi gắm, ký thác vào Phan Văn Ái còn chưa kịp thực hiện thì cuối năm 1888, xảy ra biến cố vua Hàm Nghi sa vào tay Pháp do sự phản bội của đám bồi thần Trương Quang Ngọc, vua Hàm Nghi bị kết án lưu đày biệt xứ. Tôn Thất Thuyết phải lưu vong bên đất nước Trung Quốc trông chờ vào triều đình nhà Thanh xuất quân đánh Pháp không thể trở về khiến phong trào Cần Vương trở nên yếm thế, sa sút dần. Trung tâm của phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy mạnh mẽ là vậy, cũng bị ảnh hưởng nặng nề, khiến vị đầu lĩnh Nguyễn Thiện Thuật, bố vợ của Tôn Thất Thuyết đành phải tạm lánh sang Trung Quốc tìm con rể bàn định phương sách đối phó, hầu mong chấn hưng lại phong trào Cần Vương.
      Trước tình thế ngày càng bất lợi cho phong trào Cần Vương và cho chính bản thân, Phan Văn Ái buộc phải cáo quan về quê hương. Tại tổng Xuân Cầu, trên cánh đồng Đó làng Đồng Tỉnh, ông âm thầm xây dựng khu căn cứ quân sự, theo cung cách và quy mô trước kia của Trần Tự Khánh và Lại Linh. Phan Văn Ái đã bỏ nhiều tiền của, mướn dân phu (thực chất là những nghĩa sĩ Cần vương đang trốn tránh sự truy nã của triều đình và chính quyền Pháp), chọn khu đất trung tâm giữa bãi sậy phía Tây Nam của làng Đồng Tỉnh, dốc sức khai phá, lập dinh điền, liên tục chiêu mộ nông phu khai khẩn mở rộng điền trang, với ba xóm ấp có sức chứa tới hàng nghìn nhân mạng. Song song với việc chiêu mộ nghĩa sĩ về căn cứ, Phan Văn Ái ngày đêm miệt mài viết sách binh thư, soạn thảo thành bộ kế sách “Việt bộ thuỷ đình” xác định phương hướng cho cuộc khởi nghĩa sắp tới mà căn cứ Đồng Tỉnh được chọn làm trung tâm chỉ đạo chiến thuật, chiến lược của nghĩa quân bám sát ý đồ của Tôn Thất Thuyết. Công việc đang trong giai đoạn phôi thai thì bị Hoàng Cao Khải đánh hơi được, đã ngầm phái một toán lính, đóng giả kẻ cướp, nhân cơ hội đêm xuống, ập đến dinh trại của Phan Văn Ái cướp hết sách vở mang đi.
      Pháp ổn định được nền thống trị trên toàn cõi, truy tầm gắt gao Tôn Thất Thuyết, vị quan đầu triều đứng đầu phái chủ chiến chống pháp, lãnh tụ của phong trào Cần vương, nhằm tiêu diệt triệt để tư tưởng kháng pháp trong giới sĩ nho Việt Nam. Phan Văn Ái là thủ hạ tin cậy của Tôn Thất Thuyết cũng mất liên lạc liền mấy năm trời. Qua các đầu mối liên lạc của nghĩa quân đang dồn về căn cứ Nghĩa Trụ ngày một đông, Phan Văn Ái đã nối lại được đường dây liên lạc cùng Tôn Thất Thuyết. Như chim liền cánh, ông càng vững tin dốc hết tâm lực cùng các nghĩa sĩ dựng xây căn cứ khởi nghĩa, ủ giữ ngọn lửa cho phong trào kháng pháp trên cánh đồng quê hương mình.
      Tôn Thất Thuyết đẩy mạnh hoạt động ở hải ngoại nhưng vẫn liên tục cho người liên lạc với Phan Văn Ái, và các sĩ phu Bắc kỳ như Phan Đình Phùng, Lương Phúc. Đồng thời với việc gấp rút hoàn thành căn cứ kháng Pháp tại tổng Xuân cầu, ông còn đã tổ chức nhiều hoạt động chống Pháp ở vùng Đông Triều, Móng Cái liên tục xây dựng nhiều toán quân có vũ trang mà chủ yếu là người Hoa và dân tộc thiểu số dưới danh nghĩa vua Hàm Nghi và phong trào Cần Vương.
      Đồng Khánh tiếp ngôi vua theo sự sắp đặt của các quan giám quốc người Pháp là Đờ Cuốc - xi, Săm - pô và Oa – rơ – nô, từ tháng 10 năm 1885. Sau khi nhận ngôi, đã tỏ ra là một vị vua  bù nhìn, xu nịnh ngoại bang, hoàn toàn dựa dẫm vào sự bợ đỡ của người Pháp, khiến xã hội Việt Nam vừa trải qua nhiều biến động, xáo trộn, càng thêm rối ren, các chuẩn mực đạo đức trong xã hội không còn giữ được như các triều đại vua trước đó. Không khí kháng Pháp trong giới sĩ phu dấy lên trên khắp đất nước, đời sống dân tình một cổ hai, ba tầng áp bức càng thêm điêu đứng, lầm than, cơ cực. Lại thêm tệ lính Pháp và quân triều đình thường xuyên tổ chức các cuộc vây bố, càn quét, cướp bóc khiến dân tình khắp nơi náo loạn, kéo theo phong trào học tập và thi cử trong giới Nho sinh cả nước, đặc biệt là trong hai làng Đồng Tỉnh và Xuân Cầu vì thế cũng giảm sút. Thời cuộc biến chuyển khôn lường, cụ Đốc Nam Xuân Cầu khi ấy quá thất vọng trước cảnh triều đình mục nát, nhà vua có mà như không, đám triều thần đua thời nịnh thế bán rẻ danh tiết cầu lợi, cùng việc các học trò, môn sinh do cụ khuyến khích tham gia phong trào Bãi Sậy bị Pháp  bắt, giết hại rất nhiều, trung tuần tháng 5 năm 1888 Đốc Nam đổ bệnh qua đời.  
      Tháng 12 năm 1888, Đồng Khánh chết, ngôi vua được triều đình bù nhìn và các đại quan giám quốc người pháp khoác lên vai đứa trẻ mới 8 tuổi là hoàng tử Bửu Lân, niên hiệu Thành Thái. Thành Thái lên ngôi hành trạng khác hẳn vua trước, từ tư tưởng cho đến đường lối trị vì bởi cuộc sống của ông từ nhỏ đã gắn bó với người dân lao động, gần dân, rất gần gũi và được lòng dân, hết lòng ủng hộ các phong trào tự chủ dân tộc và tỏ rõ ý chí kháng pháp, rất được giới sĩ phu trong nước ủng hộ.
      Trận vỡ đê cuối cùng kết thúc lịch sử kinh hoàng 18 năm liền lụt lội của dân tứ trấn xứ Bắc Kỳ xảy ra năm 1889 khiến tổng Xuân Cầu càng thêm kiệt quệ, bữa ăn hàng ngày của người dân chỉ là những cọng rau xanh trôi nổi trên mặt nước ruộng phèn, làng xóm không còn một tán cây xanh bởi những cây lâu niên trong vườn sau một thời gian ngâm nước thối rễ chết cả. Vua Thành Thái lên ngôi, đời sống dân cư khá lên đôi chút do tệ nhũng nhiễu quan tham đã giảm đi phần nào, các đồ cứu tế, phát chẩn đã đén được tận tay người dân, không khí trầm lắng đã dịu đi. Khoa thi Tân Mão (1891) đã tìm lại được không khí sôi nổi vốn có của các kỳ thi trong giới nho sinh. Đào Quản người làng Xuân Cầu khoa này cũng ra ứng thí và đỗ cử nhân. Tuy ra thi và đỗ đạt vào buổi chớm hoàng hôn của Nho đạo, nhưng Đào Quản vẫn có nhiều đóng góp cho truyền thống hiếu học của tổng Xuân Cầu, nhờ tiếp nối được truyền thống khoa bảng của làng quê nghèo vùng đất bãi Sậy, nên căn cứ quân sự của Phan Văn Ái và Tôn Thất Thuyết ở Nghĩa Trụ (tổng Xuân Cầu) đang phôi thai hình thành, đã tránh được sự nhòm ngó triệt phá của đám quân Pháp, và quân triều đình trong một thời gian dài. 
      Phía nội bộ triều đình nhà Nguyễn, quan đại thần Hoàng Cao Khải ngày càng tỏ rõ sự bỉ lậu của tên Việt gian bán nước, ôm chân Pháp. Khi binh lực trong tay Tôn Thất Thuyết suy yếu dần, phải từng bước lẩn tránh khỏi vũ đài chính trị, Hoàng Cao Khải liền dâng sớ xin tự phong làm Phó Quốc Vương để thuận tiện kiểm soát thao túng công việc triều chính, loại trừ dần ảnh hưởng của vua thực triều. Đối kháng lại dã tâm đó của Hoàng Cao Khải, Tôn Thất Thuyết nghĩ đến khu căn cứ quân sự Đồng Tỉnh, có thể xây dựng thành căn cứ quân sự an toàn để phát triển tạo đà cho công việc phục quốc, liền chỉ đạo cất nhắc Phan Văn Ái ra làm quan Án sát tỉnh Sơn Tây kiêm nhiệm, thống hạt 6 tỉnh với nhiệm vụ “Vệ Quốc an dân xứ Bắc Kỳ”, lại được phong giữ chức tham biện Toà kinh lược Bắc Kỳ, với nhiệm vụ trông coi việc học, tham gia xây dựng tờ Đồng văn Nhật báo, (báo in bằng chữ Hán theo chủ trương của Nha Kinh lược Bắc Kỳ, do Đào Nguyên Phổ làm chủ bút, được chính quyền thực dân Pháp cấp kinh phí, số 1 ra năm 1893. Là một loại công báo, chủ yếu đăng những thông báo, nghị định của chính quyền thực dân trong giới quan lại và Nho sĩ ở Miền Bắc Việt Nam) làm đường lối tuyên truyền những tư tưởng cấp tiến giúp ích cho phái kháng Pháp. Lo sợ một âm mưu nổi dậy “hậu Cần Vương” sẽ được khơi ngòi từ khu căn cứ Nghĩa Trụ, nơi được coi là một trong những cái nôi cung cấp nhân tài cho đất nước, và đặc biệt từ phía nhà nho Phan Văn Ái, người đã nhiều lần khẳng khái lên tiếng chỉ trích hành động bán nước của Hoàng Cao Khải trước giới sĩ phu. Hoàng Cao Khái, với dã tâm bán nước cầu vinh, biết được tầm quan trọng của Phan Văn Ái và mầm mống hình thành khu căn cứ quân sự giữa rừng sậy làng Đồng Tỉnh, đã ngầm ra tay mua chuộc đám hầu cận của Phan Văn Ái và tiến hành thành công vụ đầu độc (cho thuốc độc vào một quả đào) sát hại Phan Văn Ái.
      Giữa trưa tháng 6 năm 1896, quan Án Sát tỉnh Sơn Tây đã chết trong sự ngậm ngùi tiếc nuối của những nghĩa sĩ Cần vương đang náu mình giữa rừng sậy, trong căn cứ quân sự Đồng Tỉnh đang xây dựng dở dang. Để đánh lạc hướng dư luận và sự chỉ trích của giới sĩ phu, Hoàng Cao Khải ra lệnh cho tỉnh Sơn Tây phải đưa tang ông về Đồng Tỉnh, cứ khoảng 10 km phải đặt nhà trạm quàn thi hài ông, hào lý các địa phương trên lộ trình đoàn đưa tang ghé qua phải tổ chức “Tế Điếu” trịnh trọng trước vong linh ông.
Cũng trong năm này quan đốc học tỉnh Đông, Tô Huân làng Xuân Cầu cũng lìa đời, để lại nhiều tiếc nuối cho nhân dân và học trò sĩ tử quanh vùng mến mộ tài năng học thuật của ông.
      Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy và phong trào Cần Vương đi vào giai đoạn thoái trào và phân rã toàn bộ, sau liên tiếp các thất bại của nghĩa quân. Lại thêm bản hiệp ước năm 1894, ký giữa chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh phong tỏa nghiêm ngặt biên giới hai nước Việt Nam và Trung Quốc, đã ảnh hưởng rất lớn tới công cuộc kháng pháp của Tôn Thất Thuyết. Phong trào Cần Vương trên danh nghĩa đã bị dập tắt, nhưng những đốm lửa của nó vẫn âm ỉ cháy trong lòng mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt nó đã trở thành dấu ấn sâu đậm với lớp lớp nho sĩ tiến bộ tổng Xuân Cầu nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu đậm từ cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy và trong giới nho sinh ái quốc trên phạm vi cả nước.
Song song với công tác bình định, tiêu diệt các thế lực phản kháng, chính quyền Pháp tại Hà Nội đã cho thiết lập cây cầu sắt bắc qua dòng Nhị Hà, với mục đích thông suốt trục giao thông giữa Hà Nội và các tỉnh phía Bắc vào năm 1898, kỹ sư Effen được quan toàn quyền Doumes giao phụ trách thiết kế và thi công chính, các vùng lân cận như Bắc Ninh, Hưng Yên chịu nhiều ảnh hưởng của nạn bắt phu, bắt thợ phục vụ cho công trình xây dựng, dân tổng Xuân Cầu cũng liên tục bị trưng thu các loại sản vật như tre, gỗ và nhân công, đồng ruộng thiếu người cày cấy chăm sóc khiến mùa màng thất thu, nhiều hộ nông dân lâm vào cảnh thiếu đói.     
Bước sang đầu thế kỷ XX, nhiều biến động lớn xảy ra trên thế giới và toàn cõi Đông Dương có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị và xã hội Việt Nam. Ở ba kỳ Bắc, Trung, Nam đế quốc Pháp đã tạm thời đàn áp dập tắt được các phong trào nổi dậy đòi độc lập chống lại sự đô hộ, nô dịch trên mọi mặt của Pháp. Triều đình phong kiến Việt Nam tỏ ra hoàn toàn bị động trước làn sóng mới tràn sang từ các nước phương Tây, các vị vua có tư tưởng cấp tiến như Hàm Nghi, Thành Thái đều lần lượt bị đám bồi thần thân phương Tây cô lập, phế truất và bị đày đi biệt xứ, vua Khải Định do đám quyền thần xu thời và các quan toàn quyền Pháp dựng lên giai đoạn này đã tỏ ra rất phù hợp và “thích ứng nhanh” với thời cuộc, xứng đáng với vương hiệu dân gian đã gọi, Vua Bù Nhìn, nổi tiếng rất nhanh trong bàn tiệc chính trị về tài nịnh đầm, ôm chân quan Pháp. Thực tế trên phương tiện chính trị, người Pháp tuy đã chế ngự và khuất phục được hoàn toàn kẻ đứng đầu xã tắc Đại Việt, nhưng vẫn hết sức lúng túng trong việc thu phục lòng dân Nam, nhất là giới sĩ phu trong nước. Sau mỗi chiến dịch càn quét truy sát quân nổi dậy, phía Pháp vẫn canh cánh lo sợ bởi lớp nghĩa sĩ, sĩ phu thua trận đang tạm thời rút về ở ẩn chờ đợi thời cơ thuận lợi sẽ vùng lên phất cờ tụ nghĩa chống trả quyết liệt với cơ cấu tổ chức ngày càng tinh vi và chặt chẽ với quy mô lớn hơn.
      Tiêu biểu trong giai đoạn này là sự xuất hiện hàng loạt các tổ chức chính trị, tiến bộ, mang tính cấp tiến như thành lập Duy Tân hội năm 1904, và phát động phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đưa học sinh du học ở Nhật năm 1905, xét theo bản chất thực của vấn đề này, chỉ mang ý nghĩa tượng trưng cho phong trào vì những học sinh đi du học để có được cơ hội cộng tác cùng nhau trên tư cách người Việt ở hải ngoại, không phân biệt Bắc, Trung, Nam hòng phản kháng lại chủ chương chia rẽ nội bộ gây mất đoàn kết dân tộc của thực dân Pháp (khi đã hoàn toàn chi phối được triều đình nhà Nguyễn, Pháp đã chia Việt Nam ra làm ba khu vực hành chính với chủ trương khoanh vùng để trị). Do hoạt động vận động quyên góp kinh phí giúp du học sinh trong Nam kỳ quá sôi nổi đã khiến mật vụ Pháp để mắt đề phòng. Năm 1907, chính phủ Pháp đã ký thỏa ước với Nhật ngăn chặn các hoạt động của du học sinh người Việt trên đất Nhật. Dưới áp lực của Pháp, chính phủ Nhật Bản đã buộc phải trục xuất các du học sinh Việt Nam.
Sau liên tiếp những thất bại của phong trào Đông Du và tổ chức Duy Tân hội, lại tiếp nhận được luồng gió đổi mới từ thành quả cuộc Cách mạng Tân Hợi  (1911) ở Trung Quốc, một số nhà hoạt động cách mạng Việt Nam đang sống lưu vong tại Quảng Châu, chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Tôn Dật Tiên, năm 1912 đã vận động thành lập tổ chức Việt Nam Quang phục Hội, với tôn chỉ đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước, khôi phục lại chủ quyền của Việt Nam, thành lập "Việt Nam Cộng hòa Dân quốc". Đứng đầu tổ chức này là Tiểu La Nguyễn Hàm (Nguyễn Thành), Cường Để, Phan Bội Châu cùng các sĩ phu có tư tưởng tiến bộ như Đề Thám, Trịnh Hiền, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Nguyễn Quýnh, Tăng Bạt Hổ, Lưu Vĩnh Phúc, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Hồ Sĩ Kiện, Lê Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại.
 Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, kéo nước Pháp sa vào cuộc chiến, Việt Nam khi ấy là nước thuộc địa giàu tiềm năng cho chính phủ Pháp triệt để khai thác sức người, sức của phục vụ cuộc chiến ở Châu Âu, đã đẩy xã hội phong kiến Việt Nam vốn chậm phát triển bởi nền kinh tế thuần nông nghiệp, đói nghèo liên miên vào vòng kiệt quệ vì phải ra sức đắp bù khoản chiến phí cho Pháp. Sự o ép vơ vét đến tận xương tủy đã gây ra hệ quả tiêu cực cho xã hội Việt Nam, khắp nơi trong nước rộ lên phong trào khởi nghĩa chống bắt phu, bắt lính. Sự kiện năm 1916, vua Duy Tân liên lạc cùng đại diện của Việt Nam Quang Phục hội là Thái PhiênTrần Cao Vân âm mưu khởi nghĩa phục quốc bị bại lộ, bị Pháp bắt đi đày, vua bù nhìn Khải Định được dựng lên thay thế đã khiến tình hình chính trị, xã hội trong nước càng thêm bất ổn, không khí kháng Pháp càng thêm sôi sục trong giới sĩ phu.
Bầu không khí xã hội tổng Xuân Cầu sau cái chết của các danh sĩ Phan Văn Ái và Tô Huân lại trở lên căng thẳng ngột ngạt bởi các nghĩa sĩ Bãi Sậy và phong trào Cần Vương còn sống sót phải náu mình chờ thời, bỏ trốn phiêu bạt đi khắp nơi tìm chốn dung thân khi đám hương lý, hào mục trong làng theo lệnh Hoàng Cao Khải truy nã họ rất gắt gao. Chính sách bắt lính phục vụ cho cuộc chiến tranh ở Châu Âu cũng góp phần đẩy các trai đinh trong tổng Xuân Cầu phải tha phương kiếm sống rất đông vì phần lớn trong số họ không muốn đi lính phục vụ cho quân đội Pháp, nhiều người đành bỏ làng xóm, bỏ cha mẹ già, vợ dại con thơ lại quê hương, lặn lội khăn gói trốn theo bước chân các nghĩa sĩ Bãi Sậy, Cần Vương xuất bôn tìm kế sinh nhai tránh sự lùng bắt của triều đình nhà Nguyễn và chính phủ bảo hộ Pháp. Trong lớp người phải bỏ làng, lánh nạn bắt phu bắt lính giai đoạn này, có mặt vị cháu nội quan Đốc Nam, và cũng là cháu ngoại của danh tướng nghĩa quân Bãi Sậy Ngô Quang Huy. Tô Tu tuy tuổi trẻ nhưng đã nổi tiếng trong tổng hạt là một nho sinh có tài năng, đức độ, muốn nối tiếp truyền thống của lớp cha ông, Tô Tu xuất biên sang Lào làm thuê cho một hiệu buôn kiếm kế sinh nhai nhưng thực chất với mục đích lớn lao, chàng thiếu niên tràn đầy nghị lực đang háo hức tìm và bắt mối với các tổ chức Hội kín theo gợi ý của người cha Tô Y khi ấy đang mở lớp dậy chữ nho ở làng, nhưng mục đích chưa đạt, chí lớn chưa thành, ông phải trở về quê hương chịu tang cha, cùng người mẹ hôm sớm tảo tần làm lụng nuôi đàn em nhỏ.
Năm 1920, cây cầu sắt của người Pháp hoàn thành, chính quyền Hà Nội mở hội Cát – Tó, thi hát và các trò mua vui, nhằm xoa dịu những dư luận trong nhân dân vì những tổn thất mất mát xảy ra suốt hai thập kỷ thực hiện xây dựng cây cầu trong đời sống nhân dân Bắc thành. Đám hào mục, hương lý tổng Xuân Cầu cũng đốc thúc nhân dân nghỉ làm ăn, buôn bán ra tham dự các trò vui. Tiết mục hát làn điệu Trống quân của trai đinh tổng Xuân Cầu với gái làng Mai được các quan Pháp thưởng bức trướng, vải lụa và tiền.
Trước những bước phát triển tất yếu của xã hội, các chí sĩ Việt Nam đã không còn hứng thú với mô hình phong trào đấu tranh cho nền quân chủ, nhiệm vụ đánh đuổi ngoại bang được xác định là mục tiêu chung của quảng đại nhân dân Việt Nam hướng tới nền dân chủ, một số nhóm thanh niên trẻ, điển hình như nhóm Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài, cùng với Hoàng Phạm Trân đứng ra thành lập Nam Đồng thư xã (Nhà xuất bản) với mục đích công khai thu hút giới thanh niên trí thức, cổ vũ tinh thần yêu nước, truyền bá tư tưởng cấp tiến của thời đại qua công tác biên soạn, dịch thuật những cuốn sách ca ngợi anh hùng cứu quốc của Việt Nam và nước ngoài; về thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên, và cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, đồng thời tạo điều kiện cho thanh niên trong nước có dịp tiếp cận với các nhà tư tưởng nổi tiếng của Pháp như Rousseau, Montesquieu. Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Hồ Văn Mịch, Tô Chấn, Nguyễn Đức Cảnh... tuy tuổi còn rất trẻ nhưng đã có hoài bão giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp thường xuyên có mặt bàn luận chuyện chính trị ở đây.
Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, rồi liên minh Quốc - Cộng tại Trung Quốc hình thành... đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các tầng lớp sĩ phu và đường lối hoạt động của các tổ chức chống pháp trong nước. Giữa năm 1924, phỏng theo mô hình tổ chức của Trung Quốc Dân Đảng do Tôn Trung Sơn chủ trương, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đã cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng, sự cải tổ cơ cấu và đường lối hoạt động này sau một thời gian ngắn đi vào hoạt động, đã thu hút được sự chú ý và ủng hộ của Quốc tế Cộng sản.
 Ở Quảng Châu, đồng thời với việc cải tổ cơ cấu và đường lối hoạt động của Việt Nam Quang Phục Hội, một số hội viên như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Duy Điếm, Trần Văn Cung, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng đã chủ trương thành lập một tổ chức khác lấy tên Tâm Tâm Xã, Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến Quảng Châu và thuyết phục được những thành viên ưu tú của Tâm Tâm Xã tham gia thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, Tháng 12 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc (khi đó là thư ký và thông dịch viên cho Borodine, người Nga, cố vấn cao cấp cho Quốc dân đảng Trung Quốc) đã có cuộc tiếp xúc với Phan Bội Châu, cùng trao đổi về xu hướng Quốc - Cộng hợp tác cho cách mạng Việt Nam.
Năm 1925, nhà chí sĩ Phan Bội Châu bị mật thám Pháp theo dõi và bắt ở Thượng Hải. Việt Nam Quang phục Hội và Tâm Tâm Xã từ đó tan vỡ, một số danh sĩ không chịu nổi sự mất mát quá lớn lao này đối với lý tưởng của họ đành bó tay thúc thủ như trường hợp nhà chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền đã xuống tóc đi tu, một số hội viên còn lại đành gia nhập các đoàn thể khác tiếp tục con đường tranh đấu.
Không khí tham gia các tổ chức đoàn hội trong giới thanh niên trí thức phát triển tới cao trào, hàng loạt các tổ chức và các phong trào yêu nước ra đời có sức thu hút và tập hợp quần chúng tham gia. Trong đó có phong trào để tang Phan Chu Trinh và đòi giảm án cho Phan Bội Châu được giới học sinh sinh viên trong cả nước nhiệt tình ủng hội thành một cơn bão chính trị hâm nóng bầu không khí đấu tranh chính trị và vũ trang trong và ngoài nước, ảnh hưởng sâu sắc tới mọi tầng lớp cư dân Việt Nam, hàng loạt thanh niên trí thức tổng Xuân Cầu tự giác ngộ và chủ động tham gia hoạt động trong các tổ chức yêu nước như Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Điển, Tô Gĩ, Nguyễn Công Mĩ, Nguyễn Công Miều, Phan Cự Ninh, Trần Hiến (tức Hiến Vẹo, cháu nội tướng Trần Tâm, một trong những mãnh tướng quả cảm của nghĩa quân bãi sậy năm xưa, ông hoạt động núp dưới danh nghĩa thầy lang đi bốc thuốc, thăm bệnh cho nhân dân khắp các vùng lân cận, nhưng thực chất làm cơ sở liên lạc bí mật cho tổ chức Quốc dân đảng)...
Chính phủ Pháp ráo riết tung ra các chiến dịch truy quét lùng bắt, tận diệt các tổ chức phong trào chống đối của người Việt Nam cả trong nước và hải ngoại, đặc biệt là lùng bắt lãnh tụ các phe đảng. Đối phó với tình hình kiểm soát gắt gao của chính quyền Pháp, một số tổ chức đã chủ trương tập hợp mọi lực lượng yêu nước thành lập tổ chức mới, xác định hướng đi phù hợp với tình hình diễn biến chính trị trong nước. Việc sát nhập thống nhất 3 tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn theo tên gọi mới Đảng Cộng sản Việt Nam được các vị đứng đầu tổ chức ba kỳ nhiệt thành hưởng ứng. Tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng ra đời do lãnh tụ Nguyễn Thái Học cùng các thành viên của Nam Đồng thư xã Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp, Tô Chấn vv. tham gia sáng lập.
Tổng Xuân Cầu là nơi giao thông thuận tiện, lại có hệ thống chợ Cầu, chợ Chỉ họp theo phiên, người tứ xứ theo đường sông, đường bộ tìm tới bán buôn, lại thuộc vùng ven ngoại thành Hà Nội nên được các tổ chức yêu nước lấy làm mục tiêu gây dựng cơ sở lâu dài. Tô Chấn, với vai trò của một vị lãnh đạo Quốc Dân Đảng, chọn tổng Xuân Cầu làm nơi phát triển, bồi dưỡng và thu hút đảng viên cho tổ chức, ông đã vận động bồi dưỡng Tô Điển, người cùng làng tham gia hoạt động lãnh đạo gây dựng tổ chức Quốc Dân Đảng trong vùng. Sau vụ phát động cuộc bạo động vũ trang khởi nghĩa từ đêm ngày 9 đến ngày 11 tháng 2 năm 1930 ở nhiều nơi như Hưng Hóa, Lâm Thao, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại, Hà Nội căn cứ chính được chọn làm tâm điểm vận động cuộc khởi nghĩa là tỉnh Yên Bái. Cuộc khởi nghĩa thất bại các lãnh tụ cốt cán như Nguyễn Thái Học, rồi Trần Huy Liệu lần lượt bị bắt, Tô Chấn và Tô Điển cùng một số đảng viên của Quốc Dân Đảng phải chuyển cơ sở vào Sài Gòn, Tô Chấn giai đoạn này là Uỷ viên trung ương Quốc Dân Đảng, kiêm Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ. Riêng Phan Cự Linh người làng Đồng Tỉnh vẫn bí mật bám trụ tại Hà Nội, trên cương vị bộ trưởng Bộ Thanh niên Quốc dân Đảng.
Các đảng viên Đảng Cộng sản hoạt động ở Tổng Xuân Cầu có phần mạnh mẽ hơn, được Nguyễn Đức Cảnh một trong những thủ lĩnh của Đảng Cộng sản quan tâm trực tiếp vận động, bồi dưỡng, thu hút được nhiều thanh niên trí thức tổng Xuân Cầu nhiệt tình hưởng ứng như Tô Hiệu, Tô Gĩ, Nguyễn Công Mĩ, Nguyễn Công Miều, Nguyễn Công Bồng.   
Một số trí thức như Nguyễn Công Hoan, Tô Ngọc Vân và Tô Tu, được sự phân công ngầm của dòng họ, không công khai trực tiếp tham gia hoạt động trong các tổ chức bí mật giai đoạn này bởi trách nhiệm duy trì phát triển giống nòi của tộc họ, nhưng họ vẫn tự nguyện gánh vác chia sẻ vai trò ngầm cung cấp nguồn tài chính cho các tổ chức, tự lựa chọn hướng đi phù hợp với khả năng hoàn cảnh của mình.
Sau cuộc khủng bố trắng dã man và tàn bạo của chính quyền Pháp nhằm vào các tổ chức, các phe phái chống đối, lại thêm cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị trầm trọng ở Đông Dương, đời sống xã hội nhân dân tổng Xuân Cầu có sự phân hoá sâu sắc, một bộ phận lớn dân cư rời làng đi làm ăn buôn bán tại các trung tâm kinh tế lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, một số bị tù đày, bắt bớ, tra khảo, truy nã như Tô Chấn, Tô Hiệu (trong vụ mưu sát hai viên quan toàn quyền Đông Dương và Nam Dương là Pa–s-ki-ê và Đơ-gờ-rep) Nguyễn Công Miều, Nguyễn Công Mĩ, Tô Điển, Tô Gĩ... Đám hương lý trước sự mục nát suy đồi của triều đình nhà Nguyễn và lợi dụng chính sách hà khắc của chính quyền Pháp, cùng bọn mật thám chỉ điểm ra sức lộng hành, té nước theo mưa cướp bóc vơ vét của cải của nhân dân trong tổng đẩy đời sống nhân dân vào thảm cảnh sống không đất cấy cày, chết không có mồ chôn. Phong trào hoạt động cách mạng trong tổng Xuân Cầu vì thế cũng giảm đi. Năm 1934, khi ra khỏi nhà ngục Côn Đảo với bệnh án lao phổi độ 3, Tô Hiệu bị chính quyền đưa về Xuân Cầu quản thúc, với chí khí của người cộng sản cách mạng, Tô Hiệu đã khôn khéo vượt qua các vòng bao vây phong toả của chính quyền thực dân, tranh thủ vận động giác ngộ lứa thanh niên trong tổng Xuân Cầu đi theo tiếng gọi giải phóng dân tộc, tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người con trung kiên của Đảng cộng sản như Cao Tải, Khán Phê, Đặng Kỳ, Đặng Đình Châu, Đặng Đình Đài, Tô Ngân (chủ hiệu Tô Ngân Đường, vừa bán tạp hoá vừa mở hiệu cắt tóc, Tô Ngân Đường cũng là trụ sở hoạt động bán công khai của nhóm cách mạng tổng Xuân Cầu), Quản Lự, Nguyễn Thị Tỳ, Nguyễn Thị Mị, và Nguyễn Thị Đen (em ruột Tô Hiệu).
Với chủ trương chống phát xít; đòi quyền lợi chính trị, kinh tế cho đông đảo quần chúng; thi hành chính sách đối ngoại hoà bình và cải thiện đời sống kinh tế, chính trị cho "các dân tộc hải ngoại" (thuộc địa Pháp), liên minh chính trị của các lực lượng cánh tả Pháp (Đảng Xã hội, Đảng Cộng sản và các chính đảng, tổ chức chính trị khác) được thành lập ngày 17.6.1935 đã thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội Pháp tháng 5.1936, góp phần không nhỏ thúc đẩy phong trào trào cách mạng Việt Nam đi lên. Đời sống tinh thần, và nhu cầu học tập tiếp cận nguồn tri thức mới của nhân dân trong tổng Xuân Cầu cũng được nâng cao. Dưới sự vận động cương quyết, khôn khéo của Tô Hiệu, ngôi trường Kiêm Bị đầu tiên cấp làng được xây dựng ngay trên đất làng Xuân Cầu phục vụ cho nhu cầu học tập của con em nhân dân trong vùng, đây có thể coi là mốc son trong sự nghiệp giáo dục Việt Nam đánh dấu sự thành công vượt bậc của cuộc đấu tranh chính trị, công khai chống lại âm mưu ngu dân để trị, chia dân để trị của chính quyền thực dân đương thời.
      Song song với công tác phát triển công tác Đảng ở tổng Xuân Cầu, năm 1936, 1937 trước yêu cầu cấp thiết của các chi bộ Đảng, Tô Hiệu thường xuyên tham gia chỉ đạo phong trào ở Hà Nội và các tỉnh Duyên Hải Bắc Bộ với cương vị Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, để dễ bề ra đi hoạt động, tránh sự gây rắc rối của bọn hương lý, hào mục trong làng cho những người ở lại, nhân dịp gia đình làm lễ dạm hỏi cô Nguyễn Thị Tỳ người cùng làng và cũng là đồng chí được ông giác ngộ cách mạng, Tô Hiệu lấy cớ chưa muốn lấy vợ và trốn đi ra Hàng Bột thuê nhà ở để tiếp tục hoạt động cách mạng. 
      Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, chính phủ bình dân Pháp tan rã, năm 1939 chính phủ thực dân như con rắn bị đánh trọng thương, bỗng hồi sức quay lại khủng bố đàn áp triệt để phong trào cách mạng Đông Dương, các cơ sở cách mạng của Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng khắp nơi trong nước tan vỡ, tổng Xuân Cầu vẫn là nơi an toàn cho các chiến sĩ cách mạng như Hoàng Quốc Việt, Trần Tử Bình, Hoàng Văn Thụ và một số đồng chí khác trong Đảng thường xuyên lui tới, nhà cụ Cả Y là địa điểm liên lạc bí mật tiếp đón và nuôi giấu các đồng chí về hoạt động.
      Cuối năm 1939, Tô Hiệu bị chính quyền thực dân Pháp bắt khi đang chỉ đạo các đồng chí chuẩn bị duyệt và đưa tài liệu tuyên truyền của Đảng cộng sản (báo Chiến Đấu) đến các Chi bộ Đảng các tỉnh Duyên hải Bắc Bộ, kịp thời cổ vũ cho các phong trào đình công, lãn công, bãi công lớn và các tổ chức nghiệp đoàn đương hoạt động dưới các hình thức các hội tương tế, công hội đỏ, vv... Thời gian này Tô Hiệu giữ cương vị Bí thư Thành uỷ Hải Phòng, đặc trách Bí thư liên khu B. 
      Người con của dải đất Nghĩa Trụ kiên cường bất khuất khi sa vào tay quân giặc vẫn hết lòng tận tuỵ với công việc của Đảng cộng sản, với tinh thần thép, Tô Hiệu đã chủ trương biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng vĩ đại, ngay với chính bản thân Tô Hiệu cũng triệt để nghiêm khắc trong vai trò vừa là học trò, vừa là người thầy trong công tác vận động tuyên truyền nghiên cứu học tập lý luận và tư tưởng cách mạng Mác – Lê Nin trong những năm tháng bị tù đày trong nhà ngục Sơn La.
      Hai tháng trước khi mất, lượng sức mình không còn tiếp tục cáng đáng được công việc trong chi bộ nhà tù bởi những cơn đau xé nát phổi liên tục ập đến, Tô Hiệu không muốn tiếp tục dùng những liều thuốc điều trị bệnh hiếm hoi mà Chi bộ dành cho mình, để dành chữa trị cho các đồng chí khác, còn về phần mình chỉ khẩn thiết với Chi bộ xin được “trích một mũi thuốc để ra đi chóng vánh” không liên luỵ tới mọi người sau cái chết của mình. Khi Chi bộ từ chối, Tô Hiệu đã gặp riêng Trần Quốc Hoàn tỏ ý nhất quyết không muốn kéo dài tình trạng này nữa, nhưng Chi bộ họp và nhất quyết từ chối với lý do “không cứu được đồng chí của mình thì thôi, chứ không thể giết chết đồng chí của mình được”. Tháng 2 năm 1944, trước khi trút hơi thở cuối cùng khoảng 10 phút, ông vẫn ghé tai đồng chí mình nhắc lại và cho được coi đó là nguyện vọng cuối cùng, Chi bộ họp cấp tốc và đi đến quyết định chấp nhận để ông được nhẹ nhàng thoả nguyện, nhưng khi mũi thuốc ngủ do “đồng chí Đĩnh và đồng chí Thọ lấy vào ống tiêm xong thì Tô Hiệu đã trút hơi thở cuối cùng trước đó khoảng 10 phút”* (phần chữ in nghiêng được trích nguyên văn trong bài Một Nhân cách Cộng sản, tác giả Hoàng Công Khanh in trong cuốn sách Tinh Thần Tô Hiệu – Hội Khoa học Lịch Sử Việt Nam - 2009), ông đã anh dũng hi sinh trong tù ngục của chế độ thực dân tàn ác, man rợ, nhưng tinh thần của ông vẫn sống mãi trong lòng các đồng chí của ông. Tinh thần đó được các bạn tù chính trị nhà ngục Sơn La tiếp nối qua biểu tượng cây đào Tô Hiệu trồng khi còn sống, vẫn mọc sừng sững, hiên ngang nở hoa kết trái giữa cảnh tù ngục Sơn La, như một chứng tích lịch sử hào hùng gửi tới muôn đời.
      Chính quyền Pháp trên toàn cõi Đông Dương ngày càng suy yếu trước sự tấn công lấn chiếm của đội quân phát xít Nhật. Nhu cầu cung cấp binh lương và các sản phẩm phục vụ cho quân đội tham gia cuộc chiến tranh được người Nhật ráo riết thực hiện, ra sức vơ vét, bòn rút từ cuộc sống của người dân Việt Nam để cung cấp quân nhu cho các chiến trường. Việt Nam một nước thuần nông nghiệp, vốn đã đói nghèo lạc hậu do chế độ phong kiến suy đồi, bởi chính sách bảo hộ mậu dịch của Pháp đã áp đặt từ nhiều thập kỷ lại phải chịu thêm chính sách bạo ngược của chế độ phát xít Nhật như chủ trương phá lúa trồng đay, thu mua hết thóc gạo, lương thực dự trữ trong dân gian làm vật liệu, nhiên liệu công nghiệp đã đẩy nạn đói trong nhân dân miền Bắc tới tột đỉnh vào tháng 3 năm 1945, chết đói khoảng từ 400.000 người tới 2.000.000 người. Tầng lớp dân nghèo chết, người khá giả cũng chết vì có tiền mà không có lương thực để mua, trên những cánh đồng cây đay xanh nhức nhối thay cho những cánh đồng lúa vàng, rau màu tươi xanh vụ giáp hạt, khiến người cày cấy, các chủ ruộng cũng chết vì không còn lương thực.
      Đời sống nhân dân tổng Xuân Cầu tuy có khá giả hơn, nhu cầu sinh hoạt tinh thần tuy được cải thiện nâng cao nhưng cũng nằm chung trong vòng xoáy các biến cố lịch sử chính trị, xã hội. Đặc biệt các hoạt động yêu nước trong tổng thời gian này cũng được đẩy mạnh, dưới hình thức giao lưu văn hóa, các đội du kích làng lấy đó làm cớ che mắt chính quyền thực dân sở tại công khai tụ họp bàn bạc, trao đổi thông tin, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, tiêu biểu như cuộc thi hát Trống quân năm 1941 được báo Tri Tân ghi nhận, giới thiệu trong số 19 như là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian dưới tiêu đề “Một cuộc thi hát Trống quân giữa trai Xuân Cầu với gái Khúc Lộng”.
Nhật, Pháp liên minh với những chủ chương phản dân sinh đã khiến nền kinh tế xã hội và đời sống nhân dân các tỉnh Bắc kỳ đi vào ngõ cụt, tổng Xuân Cầu đã lác đác xuất hiện người trong chết vì đói, lại thêm nạn người ăn mày, người ăn xin từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định tràn về nườm nượp, phát sinh tệ nạn trộm cướp, dịch bệnh hoành hành, xác chết người vãng lai, người bản xứ nằm rải rác khắp các ngõ xóm, trên triền đê, góc chợ.
      Diễn biến của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 thời điểm này cũng có nhiều thay đổi. Trên khắp các chiến trường Đông Dương, quân đội Nhật hoàng yếm thế dần, đòi hỏi bức thiết phải rút dần lực lượng về nước, chính phủ Nhật đã chủ trương thực hiện chiến dịch vận động cuộc hành quân Meigo. (Trước đó vào năm 1940, phát xít Nhật tuy đã rải quân trên toàn Đông Dương nhưng cơ hội lật đổ và thay thế hoàn toàn quyền cai trị của người Pháp chưa tới, một phần chính là bởi nguyên nhân ngày 14-6-1940, quân đội Đức chiếm đóng Paris, nước Pháp đã hoàn toàn đầu hàng quân đội Đức. 19-6-1940, bộ Ngoại giao Nhật gửi cho đại sứ Pháp tại Nhật một tối hậu thư buộc nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương phải chấp nhận trong vòng 24 giờ: Đóng cửa biên giới Hoa Việt, đình chỉ sự chuyên chở quân nhu bằng đường hỏa xa qua Trung Hoa, để cho Nhật kiểm soát việc đóng cửa biên giới và chuyên chở. Ngày 1-8- 1940, chính phủ Nhật tuyên bố thiết lập Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á, trên danh nghĩa đó các nước Đông Dương và Indonesia độc lập được coi là thành viên trong khối, nhưng các nước Đông Dương giai đoạn này trên danh nghĩa vẫn còn lệ thuộc Pháp, là lí do chính để  quân đội Nhật tràn sang kiểm soát hoàn toàn Đông Dương. Năm 1944, tình hình thay đổi. Ngày 23-8-1944, quân đội Đồng minh tiến vào Paris. Tướng Charles de Gaulle lập chính phủ lâm thời chống lại nước Đức, nên phía chính phủ Nhật lo ngại chính quyền Pháp tại Đông Dương mở cửa cho quân đội Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương đánh tập hậu quân đội Nhật). Ngày 9-3-1945, để nắm vững tình hình Đông Dương, Nhật đã làm cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Pháp tại Đông Dương.
      Sau cuộc đảo chính, đại sứ Nhật là Yokoyama đến yết kiến vua Bảo Đại tại điện Thái Hòa (trong hoàng thành Huế) sáng ngày 11-3, giải thích những hành động mới nhất của Nhật tại Việt Nam, kêu gọi Việt Nam cùng các nước Đông Dương gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật đứng đầu. Đáp ứng lại, vua Bảo Đại triệu tập Cơ mật viện, các thượng thư và các hoàng thân để thảo luận tình hình mới. Cuộc họp đưa thống nhất giữa Bảo Đại và thượng thư Phạm Quỳnh (bộ Lại), Hồ Đắc Khải (bộ Hộ), Ưng Uỷ hay Hy (bộ Lễ), Bùi Bằng Đoàn (bộ Hình), Trần Thanh Đạt (bộ Học), và Trương Như Định (bộ Kinh tế) cùng ký bản thoả ước với chính phủ Nhật, do Phạm Quỳnh soạn, hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng Pháp Việt, tuyên bố chấm dứt chế độ đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam.
      Trần Trọng Kim từ Singapore về nước vận động thành lập chính phủ theo mô hình phương tây. Ngày 17-4-1945, tại điện Thái Hòa, Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ mới lên vua được Bảo Đại chuẩn y, đây là chính phủ đầu tiên của Việt Nam được tổ chức theo cơ cấu tây phương, lệ thuộc hoàn toàn vào chính sách quân sự chung của Nhật tại Đông Nam Á.
      Tình hình chính trị thế giới nhất là châu Á thay đổi mạnh mẽ. Ngày 7-5-1945 trên khắp chiến trường châu Âu, quân Đức thất trận và ồ ạt đầu hàng. Đại diện cho phe đồng minh là Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, thủ tướng Anh Winston Churchill, Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm thủ tướng thế Churchill), Bí thư thứ Nhất đảng Cộng Sản Liên Xô Stalin, cùng dự họp hội nghị thượng đỉnh tại thị trấn Potsdam, từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, để bàn về các vấn đề hậu chiến tại Đức, như các khu vực chiếm đóng, việc tái thiết và các điều kiện đưa ra cho nước Đức.
       Đồng thời tại hội nghị này, đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa Dân Quốc (tổng thống Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh) cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật Bản ngày 26-7-1945, buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện, thực hiện đầy đủ các điều kiện của Đồng minh đưa ra như: Chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc... Riêng về vấn đề Đông Dương, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh ở nam vĩ tuyến 16.
      Nhật càng ngày càng thất thế. Đời sống xã hội Việt Nam xôn xao trước những biến chuyển chính trị trên thế giới, thời cơ quyết định vận mệnh dân tộc đã đến rất nhanh chóng: sau khi chiến thắng hoàn toàn quân Đức, Hồng Quân Liên Xô bắt đầu tiến công quân Nhật. Chỉ trong vòng không đầy một tuần, quân đội Xô Viết đánh tan gần 1 triệu quân Quan Đông của Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), tác động mạnh đến tinh thần quân Nhật ở Đông Dương làm chúng hoảng sợ mất hết nhuệ khí chiến đấu.. Nội bộ chính phủ Trần Trọng Kim bắt đầu xuất hiện sự chia rẽ. Ngày 6-8-1945, ba bộ trưởng Nội vụ (Trần Đình Nam), Kinh tế (Hồ Tá Khanh) và Tiếp tế (Nguyễn Hữu Thí) từ chức và đề nghị toàn thể nội các giải tán. Ngày 7-8, chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố giải thể. Bảo Đại yêu cầu Trần Trọng Kim lưu nhiệm và lập chính phủ mới.
       Hoa Kỳ liên tiếp thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima (6-8) và Nagasaki (9-8), buộc Nhật hoàng Hiro Hito phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngày 14-8-1945.
Tranh thủ thời cơ đã chín, Việt Minh chủ trương phát động thành lập các tổ chức Mặt trận trên cơ sở nắm vững và bám sát những diễn tiến tình hình thế giới, nhằm thúc đẩy các phong trào nổi dậy cướp chính quyền phù hợp với tình hình thực tiễn. Nhanh chóng thông qua các nghị quyết thành lập tổ chức Uỷ ban khởi nghĩa, Việt Nam giải phóng quân, Uỷ ban Dân tộc Giải phóng, đồng thời Việt Minh khẩn cấp ra lệnh Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở tất cả các xã, huyện, tỉnh, thành trong nước. Tổng Xuân Cầu sau nạn đói và sự kìm kẹp khắt khe của Pháp, Nhật, lực lượng cách mạng trung kiên vẫn bám trụ trong nhân dân, vận động lực lượng thanh niên tham gia hoạt động rải truyền đơn, diễn thuyết, kêu gọi nông dân nghèo trong tổng nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của tổ chức Ủy ban khởi nghĩa vừa được thành lập do Tô Tu đảm nhiệm vai trò Chủ tịch UBND kháng chiến xã Xuân Cầu, Cố vấn Ủy ban kháng chiến huyện Văn Giang cùng Tô Duy, Cao Tải, người được Tô Hiệu trực tiếp giác ngộ cách mạng, được giao nhiệm vụ rải truyền đơn, áp phích, mua vũ khí và tham gia dành chính quyền Huyện Văn Giang, cùng một số đồng chí khác chỉ đạo các tổ chức du kích, tự vệ, thanh niên cứu quốc tập hợp khẩn trương chẩn bị vũ khí như súng, mã tấu, giáo mác giành cơ hội khởi nghĩa.  
Đến chiều ngày 17/8, cái gọi là “Tổng hội công chức” tổ chức một cuộc mít tinh ở Nhà hát Lớn, ban tổ chức cuộc mít tinh rêu rao mục đích là để “ủng hộ nền độc lập của Việt Nam”, “bài trừ chính sách của thực dân” nhưng họ không hề nói tới Việt Minh, cũng không hề dám nói đến Nhật. Rồi họ cũng treo cờ quẻ ly, cũng phái nhiều lính bảo an và cảnh sát đến giữ tật tự. Cuộc mít tinh vừa mới bắt đầu, Việt Minh bất ngờ giương cờ đỏ sao vàng, xông lên chiếm lấy diễn đàn, kêu gọi nhân dân vùng dậy trước con mắt kinh hoàng của phát xít Nhật và bọn tay sai. Các đội tự vệ chiến đấu xuất hiện với vũ khí trong tay bảo vệ cho đội Tuyên truyền xung phong diễn thuyết, hô hào quần chúng ủng hộ Việt Minh. Nhận thấy tình thế thuận lợi, Ủy ban khởi nghĩa đã quyết định biến cuộc mít tinh thành biểu tình tuần hành. Quần chúng hưởng ứng nhiệt liệt, lính bảo an do dự, không biết đối phó thế nào, họ vác súng theo đoàn biểu tình. Trời mưa lớn, quần chúng vẫn say sưa tiến bước dưới lá cờ đỏ sao vàng rợp khắp các đường phố Hà Nội, hô vang khẩu hiệu: “Việt Nam hoàn toàn độc lập”, “Đã đảo bù nhìn” vv… cả Hà Nội rạo rực không khí cách mạng.
Hòa chung trong không khí nổi dậy của cả nước, nhân dân tổng Xuân Cầu và hầu hết khu vực lân cận cũng nô nức tham gia vào đoàn quân biểu tình, tuần hành ủng hộ chính quyền cách mạng mới thành lập. Các đồn lính bảo an lẻ tẻ ở ngoại thành bị quần chúng cách mạng chiếm giữ, đồng bào ngoại thành nô nức sắm cờ, vũ khí chuẩn bị tiến vào thành phố tham gia giành chính quyền.
      Tại kinh thành huế, ngày 18-8-1945 vua Bảo Đại gởi công hàm kêu gọi sự ủng hộ của các nước Trung Hoa (lúc đó do Quốc Dân Đảng lãnh đạo), Anh, Hoa Kỳ, nhất là kêu gọi Pháp trao trả độc lập lại cho Việt Nam, đừng tái lập nền cai trị Pháp dưới bất cứ một hình thức nào. Nhờ Nhật giúp đỡ, bức công hàm nầy được đài phát thanh Nhật ở Sài Gòn, Hà Nội và Tokyo công bố rộng rãi.
      Ngày 19-8, chính quyền Hà Nội hoàn toàn về tay nhân dân.
Tin tức Hà Nội giải phóng ngày 19/8 bay đi khắp mọi miền, Uỷ ban giải phóng nhanh chóng đi đến thống nhất gửi cho vua Bảo Đại tin chiến thắng này kèm theo yêu cầu phải thoái vị và công bố chuyển giao chính quyền cho Việt Minh. Đêm 23/8 từ Hà Nội, Uỷ ban nhân dân Cách mạng Bắc bộ gửi tới hoàng cung một bức điện khẩn với nội dung “Một chính phủ nhân danh Cách mạng lâm thời đã thành lập. Chủ tịch là cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu đức Vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà”.
      Tại triều đình nhà Nguyễn, đại sứ Nhật Yokoyama vội vã đến gặp vua Bảo Đại, đề nghị dùng lực lượng của Nhật còn đồn trú tại Đông Dương kháng cự lại Việt Minh. Lo sợ trước nguy cơ một cuộc nội chiến sẽ xảy ra, tạo điều kiện thuận lợi cho ngoại bang lợi dụng đặt lại ách thống trị, hơn nữa trước đó vua Bảo Đại đã được giải thích rõ về bản chất của chính quyền mới và người lãnh đạo Hồ Chí Minh cũng chính là nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Ái Quốc, vua Bảo Đại kiên quết từ chối đề nghị của Yokoyama, quyết định hạ chiếu thoái vị.
       Tại Huế, nội các Trần Trọng Kim sau phiên họp cuối cùng ngày 23-8, cũng tự động giải tán. Ngày 25-8 vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị và ấn định ngày 30-8 tại cửa Ngọ Môn (Huế),sẽ làm lễ trao bảo kiếm và quốc ấn tượng trưng uy quyền tối thượng của triều đình nhà Nguyễn cho đại diện quân Việt Minh là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận.
      Bảo Đại thoái vị, tiếng nói cáo chung của thể chế phong kiến và nền quân chủ Việt Nam đã vang lên trước cửa Ngọ Môn, quyền lãnh đạo tối cao đã thuộc về chính quyền cách mạng, chính quyền dân chủ của nhân dân Việt Nam. Trong bóng cờ đỏ sao vàng tung bay khắp mọi nẻo đường đất nước, có màu hồng thắm sắc đào Tô Hiệu, có ý chí của các thế hệ tiền cách mạng, của những con người tổng Xuân Cầu như Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Gĩ, Tô Điển, Nguyễn Công Miều, Nguyễn Công Mĩ, Tô Duy, Tô Khôi, Trần Bình, Trần Hàm (Hiến Vẹo làng Đồng Tỉnh là một trong những đảng viên Quốc Dân Đảng, giữ vai trò thầy lang đi bốc thuốc chữa bệnh, là đầu mối hoạt động liên lạc bí mật cho các cơ sở Quốc Dân Đảng trong tuyến Hà Nội – Bắc Ninh – Thái Nguyên)... và mọi người dân đất Việt yêu nước đã gửi gắm vào sắc hoa đào hồng thắm.  (Xem tiếp bấm vào đây)