Tuesday, April 16, 2013

1. Tình cảm ông bà - cha mẹ - con cái





1. Tình cảm ông bà - cha mẹ - con cái


Bất cứ ai cũng đều sinh ra và lớn lên trong một gia đình, với khái gia đình bao gồm những người sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp, có lợi ích kinh tế chung và có trách nhiệm với nhau trong cuộc sống. Gia đình vừa là nơi đáp ứng nhu cầu riêng tư vừa thực hiện chức năng phát triển nòi giống và là trường học đầu tiên hình thành, phát triển nhân cách con người. Gia đình Việt Nam lại có gắn bó chặt chẽ với giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, qua mối liên hệ khăng khít, biểu hiện ở nết ăn, nết ở và hành vi ứng xử của con người trong một gia đình đều lấy cái gốc văn hoá của người Việt làm cơ bản, vì thế, mối quan hệ tình cảm giữa những người trong cùng gia đình luôn chịu sự chi phối của quan hệ tình cảm họ tộc, làng xã và quốc gia đã được thành hình và bồi đắp theo bề dày lịch sử. Như một hệ quả tất yếu trong văn học nghệ thuật nói chung, mảng chủ đề phản ánh những mối quan hệ tình cảm trong gia đình rất đa dạng, nhất là qua thơ ca, nhờ tính đặc thù của thơ ca (thơ, gia huấn, ca dao) là một bộ phận cấu thành văn học, có thuộc tính phổ quát rộng rãi qua các hình thức diễn ngôn, diễn xướng như ngâm, đọc, vịnh hay hình thức lưu truyền qua văn bản, văn bia, sách lên phù hợp với nhiều đề tài, hơn nữa sự phản ánh của thơ ca là rất rộng lớn, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, sinh hoạt, lao động của con người (tinh thần, vật chất, đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội, sự sống, cái chết, việc hôn nhân, cưới hỏi, nuôi dạy con cái, quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, bè bạn...), tất cả đều có thể trở thành đối tượng phản ánh của thơ ca.
Ông bà, cha mẹ theo truyền thống “Trọng già, già để tuổi cho”. Đạo làm người trong xã hội luôn đề cao vai trò của người cao tuổi, vì thế có ảnh hưởng tích cực đến uy thế và vị trí của ông bà trong gia đình được củng cố nâng cao. Người ông có vai trò đặc biệt với nhân cách những đứa trẻ, gần như là khuôn mẫu bởi ngoài tính huyết thống của gia đình phụ hệ, còn là người có thời gian gần gũi đứa trẻ nhiều hơn khi cha mẹ chúng trong vai trò chủ sự gia đình phải đảm đương gánh vác trọng trách từ công việc mưu sinh cho gia đình, đến công việc họ tộc, việc làng, việc nước, việc xã hội. Vì được gần gũi ông mà đứa trẻ được tiếp thu nhiều đức tính quý báu, và hình ảnh của ông trong tâm trí tuổi thơ cũng rất gần gũi thân thương:
Bạn bè bảo ông không già
Bởi ông vẫn hát bài ca yêu đời
Nhờ đâu sức khoẻ tuyệt vời
Thể thao dưỡng sức, hay trời nào ban.
Họ hàng bảo ông tướng quan
Vì ông đẹp lão - chứa chan tình người
Học hành cần mẫn vui tươi
Giúp ai cơ nhỡ, phù người nghĩa nhân.
Cả đời vì nước, vì dân
Vì con, vì vợ, vì phần tâm linh
Ông khuyên muốn tránh người khinh
Đức, Tài, Kinh sử, vẹn tình hơn cha.
Đấy là hồng phúc ông bà
Truyền lưu con cháu nở hoa sang giầu
Tiền quyền dù lớn đến đâu
Nghĩa nhân hưng thịnh ở câu báo đền.
(Ông tôi - BBT)
Hội tụ đầy đủ nhất nét văn hoá lúa nước và nền văn minh nông nghiệp, hình ảnh người bà trong mắt lũ trẻ gắn liền với những câu chuyện cổ tích bà kể cho chúng nghe trên chiếc chõng dưới bóng tre xanh làng quê mỗi chiều hè oi ả, nồng đượm mùi nước cốt trầu, những câu chuyện cổ tích với cái thiện cái ác rạch ròi đã cùng tâm hồn thơ trẻ của các cháu đi dọc tuổi ấu thơ tìm đến đích của cái nhân, cái thiện:
Trẩu trẩu trầu trầu
Màu làm chúa tao
Tao làm chúa mày
Tao không hái ngày
(Câu hát ru của bà – TĐK)
Thì tao hái đêm...
Đã ngủ rồi hả trầu
Tao đã đi ngủ đâu
Mà trầu mày đã ngủ
Bà tao vừa đến đó
Muốn xin mấy lá trầu
Tao chẳng phải ai đâu
Đánh thức mày để hái
Trầu ơi hãy tỉnh lại
Mở mắt xanh ra nào
...Đã dậy chưa hả trầu
Tao hái vài lá nhé
Cho bà và cho mẹ
Đừng lụi đi trầu ơi!
          (Đánh thức trầu - TĐK).
 “Trẻ cậy cha, già cậy con” là phương thức sống và ứng xử truyền thống trong mỗi gia đình Việt vốn mang đậm tính đặc thù của nền văn minh nông nghiệp và văn hoá lúa nước với vai trò người cha trụ cột gánh vác mọi công việc nặng nhọc của nhà nông như cày bừa, khai hoang vỡ đất, săn bắn thú vật,..vv. Hình ảnh người cha trong mắt những đứa trẻ cũng thật đẹp đẽ, gắn bó suốt ấu thơ của trẻ với vai trò người giáo huấn, truyền thụ kiến thức sách vở, kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm săn bắn bởi thế mối liên hệ giữa con và cha vừa mang tính xuyên suốt, vừa mang tính phổ quát rộng rãi trong cộng đồng gia đình và xã hội, đồng thời trong mắt đứa trẻ thì sự nghiệp của cha theo đuổi vừa là điểm đến trong mắt con để con hướng tới trên đường con hoàn thiện nhân cách sống, vừa là cái đích để cả đời con phấn đấu mong mỏi vượt qua, mối quan hệ con và cha ở đây phát triển tuyến tính có ảnh hưởng của yếu tố kế thừa truyền thống gia đình.
Xuân tới xuân qua cha đợi mỏi mòn
Con đi hái tinh hoa hoà non nước
Nén hương lòng nghĩa nhân cầu nguyện ước
Mong từng ngày cho con được hơn cha.
Có cao sang càng nhớ cảnh quê nhà
Cha lam lũ - con ngược xuôi vất vả
Nghĩa giàu sang vô cùng - biến hoá
Nhớ đinh ninh: ”Giấy rách giữ lấy lề”.
...Nước mắt mồ hôi xương máu - kiên trì
Trong may rủi - khôn ngoan thành sự nghiệp
Ở quê nhà cha ông phù độ tiếp
Hiểu bạn, thù, băng tuyết hiểm nguy.
 (Mong con hơn cha – BBT)
Trong mắt những người con, vai trò người cha không những quan trọng qua công lao sinh dưỡng, mà còn là người thầy hướng đạo trên đường thiên lý, là ngọn đuốc dẫn đường soi sáng cho con vươn tới lý tưởng làm người trí nhân, đại nghĩa, biết hy sinh vì nhân loại, vì chân lý “sống đẹp cho đời, đức gửi tình dân” dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo ngược:     
...Gần hai mươi năm trời
Tôi vẫn nhớ lời cha tôi cháy bỏng  
Dạy tôi
làm thơ
ước mơ
hy vọng
Những câu Kiều say sưa
đưa cuộc đời bay bổng
Tiếng võng
trưa hè mênh mông
“Phong trần mài một lưỡi gươm  
Những phường giá áo túi cơm sá gì”  
...“Muốn sống thanh cao
đi lên trời mà ở
Mày đã quyết kiêu căng  
Níu lấy cái lương tâm gàn dở  
Dám
không tồi như chúng tao
Suốt đời mày sẽ khổ”.  
 ...Những mơ ước thời xưa
như con chim gãy cánh
Rũ đầu chết ngạt trong bùn  
Năm tháng mài mòn
bao nhiêu khát vọng.
Cha đã dạy con một bài học lớn  
Đau thương
kiên quyết làm người
    (Cha tôi  - Lê Đạt)
          Nếu trong gia đình vai trò người cha được ví như cột trụ, thì người mẹ luôn giữ vai trò là mái linh hồn của gia đình, những đứa con dù có phương trưởng, giữ trọng trách trong xã hội, cũng không thể quên đi vị thế và tấm lòng của mẹ: 
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con
(Chế Lan Viên)
          Đức hy sinh của người mẹ luôn được đề cao trong tâm thức con với muôn mặt biểu hiện, và cái đức tính quý nhất nơi mẹ còn đọng lại trong con cho dù năm tháng có trôi đi thì nhân cách ấy vẫn luôn ngời toả đó là sự chịu thương chịu khổ, nhẫn nhịn một lòng vì chồng, vì con, vì hạnh phúc và sự bình yên dưới mỗi mái gia đình Việt:
Mẹ ơi, đời mẹ khổ nhiều
Trách đời, mẹ giận bao nhiêu cho cùng
Mà lòng yêu sống lạ lung
Mẹ không phút nản thương chồng, nuôi con.
"Đắng cay ngậm quả bồ hòn,
Ngậm lâu hoá ngọt!" Mẹ còn đùa vui!
Sinh con mẹ đã sinh đời
Sinh ra sự sống, mẹ ngồi chán sao?
Quanh năm có nghỉ ngày nào!
Sớm khuya làm lụng người hao mặt gầy.
Rét đông đi cấy đi cày
Nóng hè bãi cát, đường lầy đội khoai.
Bấu chân khỏi ngã dốc nhoài
Những chiều gánh nước gặp trời đổ mưa.
Giận thầy, mẹ chẳng nói thưa,
Vỉa câu chua chát lời thơ truyện Kiều.
Cắn răng bỏ quá trăm điều
Thuỷ chung vẫn một lòng yêu đời này.
Mẹ là tạo hoá tháng ngày
Làm ra ngày tháng sâu dày đời con.
(Mẹ ơi, Đời mẹ  - Huy Cận)
Thời gian trôi qua, tuổi ấu thơ của con dần trôi đi, đường công danh sự nghiệp rộng mở thênh thang phía trước, hay đang dấn thân trong lửa đạn, mưa bom ngày đêm cận kề với hiểm nguy gian khổ, thường trực đối diện giữa sự sống và cái chết, thì hình ảnh mẹ luôn là niềm tin chờ đợi, là chỗ dựa vững chắc cho con nơi tiền tuyến, cho con vững bước tiến công kẻ thù. Chiến tranh qua đi, con trở về bên mẹ, mỗi mùa xuân đến, dù thời gian có vô tình lướt qua, làm mờ tất cả, nhưng trong con tấm gương ngời sáng về cuộc đời của mẹ vẫn trọn vẹn, tinh khôi:  
Xuân này mừng mẹ vẻ vang
Trời xuân dâng mẹ tuổi vàng tám mươi
Một đời mẫu mực tốt tươi
Mệnh căn một bến nụ cười phu thê
Sinh con trái gái đủ bề
Dầy ân nuôi dưỡng tình quê mặn nồng
Nghèo sang mẫu mực tổ tông
Chắt chiu giản tiện một lòng nuôi con
Tuổi vàng thông mẫn, lòng son
Hiếu, Trung, Nhân, Nghĩa nước non mẹ tường
Chúng con theo Đảng kiên cường
Mẹ luôn hiền thảo làm gương cho đời.
Tam tòng giữ đạo sáng ngời
Nuôi con khôn lớn đầy vơi vẹn toàn
Trường đời nghiệt ngã trái oan
Nắng mưa nghèo đói cung đàn mẹ thương
Mấy ai trọn nghĩa vàng son
Đức tâm tiên tổ mãi còn lưu quang
Con đi trên mọi nẻo đường
Bão giông lửa đạn mẹ thường bên con
Mừng thượng thượng thọ an khang
Lời thơ kính mẹ tuổi vàng trời cho
Cháu con hạnh phúc ấm no
Đồng tâm hiếu nghĩa nghìn thu khôn cùng.
(Mừng mẹ tuổi vàng – BBT)
Giọt mồ hôi của mẹ, sự lam lũ của một kiếp người trọn đời bạn cùng ruộng nương khoai sắn, vì muốn cho con hưởng trọn vẹn tuổi thơ mà mẹ đành hứng chịu bao nhiêu lận đận khổ cực, bất công cuộc đời, Con lớn khôn, dù ở phương trời nào, giữ địa vị công danh cao đến đâu cũng không thể đền đáp được công ơn của mẹ:
Con chợt nhớ “chị Dậu” của Ngô Tất Tố
Còn có nhà, có bát cháo khoai lang
Có yêu thương đùm bọc của xóm làng
Riêng mẹ con tôi chỉ có rừng thiêng và xó chợ...
(Mẹ tôi - BBT).
Mẹ là hiện thân đến tận cùng của tính chịu đựng, và cam chịu cực khổ vì nuôi con, là hiện thân của người phụ nữ gặp nhiều bất hạnh trước cuộc sống lam lũ. Tất cả những điều đó ghi tạc vào hình ảnh mẹ chan chứa bằng nỗi buồn nhân sinh, tuy vậy đôi lúc con cũng có thể bắt gặp thấy ở tận đáy của nỗi buồn cùng cực, hình ảnh mẹ vẫn le lói niềm vui của sự lạc quan phát xuất từ tình yêu cuộc sống mãnh liệt và ý chí vươn lên không chịu đầu hàng trước số phận, dù nghiệt ngã, từ đó tình cảm của con dành cho mẹ càng tha thiết hơn:
Mẹ tôi vốn con nhà gia giáo
Bởi phong kiến chiến tranh mẹ bao tần tảo
Bố nặng chiến trường, mẹ nặng đắng cay
Không đất, không nhà, không ruộng cấy cầy
Thắt bụng nuôi con lấy nghề rừng độ mạng.
(Mẹ tôi - BBT).
Nỗi buồn kiếp nhân sinh tuy vô hình, vô ảnh nhưng tính cánh kiên trung và nghị lực sống của mẹ là ấn tượng mạnh mẽ nhất trong tâm trí tình cảm các con:
Nghĩa Hiếu Sinh không thể phai mòn
Con xây mộ, lập ban thờ nhớ ghi công ơn mẹ
Hận trách mình mười năm vụng về nuôi mẹ
Bởi đói nghèo chưa được học uyên sâu
Mẹ sớm đi – con nặng nỗi đau
Mẹ số khổ - thác rồi vẫn khổ.
Hai mươi năm – lăm lần chạy mộ
Tủi thân con nghèo, vẫn một mình con
Con vẫn hướng thiên văn, địa lý núi non
Tìm phong thuỷ âm dương hợp sức
Vận thế Gia Tiên cao dầy công đức
Đặt mộ phần: Đất lành sơn thuỷ đại cát cháu con.
Nhà mẹ lần này xây chắc, đẹp, vuông, tròn
Cao chín tầng, Vượng khí, Lộc tài vào tám hướng
Mẹ Đức Tâm – cháu con Thịnh Vượng
Đời nối đời kết phát công danh
Ý chí kiên cường tất vạn sự thành
Phúc - Thọ - Lộc - Tài, vô cương bền vững
(Nghĩa hiếu sinh – BBT)
Dù mẹ không còn trên cõi đời, nhưng trong tâm tưởng của con cái luôn khắc ghi tính cách tảo tần của người mẹ. Trong tận cùng cõi tâm linh, con cái vẫn tin có bóng hình mẹ mình đang hiển hiện dõi theo mỗi bước chân cùng tổ tiên nâng đỡ phù hộ cho mình:
Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào
Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa
Cái cò... sung chát đào chua...
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao
Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng
Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.
(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa... - Nguyễn Duy)
Về với cõi thiêng sau bao nhiêu vất vả cơ cực trên đời, mẹ vì đại nghĩa đã chấp nhận tất cả mọi sự hi sinh, mất mát, thiệt thòi. Hình ảnh và đạo sống ấy của mẹ trong tâm trí người con trở về sau cuộc chiến đã trở thành bất tử:
Mẹ hiến dâng cả ba con cho Tổ quốc
Ngày thống nhất Bắc - Nam chiến tranh tan cuộc
Hai nằm lại chiến trường, một còn sống về đây
Thấy mẹ thân khô, già yếu héo gầy
Mắt lệ nhoà, lòng đau tê tái…
Ngày báo tử hai con mẹ chết đi - sống lại.
      Người mẹ đã sống trọn đời vì chồng, vì con, đến tận khi trút hơi thở cuối cùng vẫn lo lắng cho tương lai, cuộc sống của người con sau này, trong tình cảm của người con thì hành động ấy đã nói lên tất cả cái đại nghĩa, trí nhân của lẽ sống ở đời, mà suốt đời người con sẽ phấn đấu hướng tới:                                                                                          
Mẹ dặn lại con trong hơi thở cuối cùng
Rồi mẹ hoá vĩnh hằng, miền Tây Trúc thung dung
Thế là trọn một đời đói khổ
Người phụ nữ nghèo cùng đinh quá cố
Khắc khoải chờ chồng tất cả vì con.
      Để xứng đáng với đạo hiếu mẹ đã truyền dạy cho con từ thuở con còn nằm nôi, người con trai duy nhất của mẹ, cần phải làm gì để xứng đáng với tình cảm của mẹ đã dành cho mình, có lẽ đây là lời giải đáp và cũng là câu hỏi không dễ trả lời đối với người con trai giữa kiếp nhân sinh:
Nghĩa hiếu sinh không thể phai mòn
Con xây mộ lập bàn thờ ghi nhớ công ơn mẹ
Tiếng khóc nghẹn ngào từ con tim vọng về một lẽ
Lẽ làm người mẹ vẫn hát ru con:
Con ơi cố sống làm người
Hiếu, Trung, Nhân, Nghĩa là nơi trường tồn
Lẽ đời ganh ghét tranh khôn
Nhường khôn biết dại tâm hồn thượng cao
Giầu nghèo vẫn được tự hào
Gian tham, tự phụ trời nào dám thương
Mỗi lần con thắp nén hương
Sửa mình tu thiện – mười phương nhiệm màu.
Niềm tin vào sự tồn tại của mẹ cùng cõi tâm linh đầy huyền bí đã trở thành động lực giúp những đứa con vịn vào đó để vượt qua bao khó khăn gian khổ của cuộc sống làm người, để rồi sau bao vui buồn trần thế lại thản nhiên đón nhận cái chết, nhìn nhận cái chết đơn giản là sự trở về bên mẹ như một lẽ tự nhiên:
          Trở về với mẹ ta thôi
Giữa bao la một khoảng trời đắng cay
Mẹ không còn nữa để gầy
Gió không còn nữa để say tóc buồn
Người không còn dại để khôn
Nhớ thương rồi cũng vùi chon đất mềm
... Trở về với mẹ ta thôi
Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.
                                        (Trở về với mẹ ta thôi  - Đồng Đức Bốn)
Bên cạnh thơ, thơ gia huấn, thơ dân gian cũng góp vai trò quan trọng trong việc phản ánh, gìn giữ và làm giàu thêm kho tàng văn hoá truyền thống và nhuận sắc thêm cho mối dây tình cảm gia đình. Nội dung cơ bản của thơ dân gian là sự phản ánh tập quán giao tiếp và ứng xử tình cảm của con người Việt Nam, thể hiện qua các mối quan hệ tình cảm gia đình, với tất cả đặc trưng của nó, đậm nét và sâu sắc, qua mối liên hệ tình cảm qua lại giữa các thành viên trong gia đình Việt Nam…
Trong gia đình truyền thống gia trưởng, bên cạnh các mối quan hệ tình cảm ruột rà, thân thích khác, mối quan hệ tình cảm ông, bà và các cháu rất thân thiết và gần gũi, bởi sự phân công vai trò lao động trong gia đình, khi cha mẹ bận công việc đồng áng, hay công việc xã hội, thì ông bà là người thân thích có trách nhiệm luôn ở bên cạnh trông nom, dạy bảo các cháu thay cha mẹ chúng, hoặc giả trường hợp trẻ không còn cha mẹ, thì ông bà vẫn là chỗ dựa hàng đầu của các cháu. Ông bà với vai trò người cao tuổi, giàu kinh nghiệm sống sẽ chia sẻ trách nhiệm cùng với cha mẹ trong việc chăm lo gây dựng tiền đồ, sự nghiệp, hạnh phúc riêng tư cho các thế hệ con cháu, bởi truyền thống và quy tắc sống của người Việt đã thành nếp nghĩ, tuổi trẻ trưởng thành lo lao động, kiến thiết và xây dựng gia đình, và sinh đẻ, nuôi dạy con cái nên người, khi về già, sức lao động giảm sút không còn xốc vác được công việc nặng nhọc của nghề nông, hay trí tuệ hoạt bát cần có theo yêu cầu trong công tác xã hội, thì ở nhà vui vầy cùng cháu, phụ giúp công việc nội trợ như chợ búa, cơm nước cho gia đình, vì vậy các cháu càng có thêm sự gắn bó tình cảm với ông bà. Thơ dân gia phản ánh tình cảm của các cháu với ông bà khá cụ thể, bởi trong ký ức của cháu thời thơ ấu, các cháu luôn được ông bà bế bồng, chăm bẵm, yêu chiều, và đặc biệt rất hiểu tâm lý trẻ qua món quà đón tay sau mỗi buổi bà đi chợ về, món quà dù giá trị rất nhỏ như đồng quà, tấm bánh, nhưng vẫn để lại cho cháu ấn tượng tốt đẹp:
Bà ơi cháu quý bà thay
Quý bà về nỗi bà hay cho quà.
Công lênh cha mẹ với con cái được dân gian hình tượng hoá với núi Thái Sơn, nước trong nguồn, thì công ơn của ông bà trong tâm tưởng các cháu lại rất dân dã, cụ thể mà gần gũi, gần gũi tựa như mái nhà che mưa, che nắng cả cuộc dời một con người:
          Ngó lên nuộc lạt mái nhà
          Bao nhiêu nuộc lạt thương ông bà bấy nhiêu.
Quy luật cuộc sống, mỗi con người phải có tổ, có tông, có dòng có giống, để giữ trọn đạo hiếu, các cháu phải biết nhớ tới ông bà tiên tổ, có cội nguồn của mình, như cây kia có gốc, có cội:
                        Con người có bố, có ông
                        Như cây có cội như sông có nguồn.
Thực hiện đầy đủ và tốt là bổn phận của thế hệ con cháu đối với thế hệ cha ông trong gia đình là đòi hỏi trước tiên của đạo hiếu với vai trò của con cháu trong tộc họ. Lập thân, lập nghiệp là yêu cầu của thế hệ cha ông với cháu con. Với người con trai, cháu trai lấy công danh, sự nghiệp, tiến thân cốt làm rạng rỡ tổ tông để báo hiếu cha ông: 
                        Công danh hai chữ tờ mờ
                        Lấy gì khuya sớm phụng thờ tổ tiên
                        Khôn ngoan nhờ đức cha ông
              Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ.
Theo quy định theo huyết thống dòng tộc, trong gia đình gia trưởng truyền thống, vai trò của người cháu trai trưởng của gia tộc phải có trách nhiệm cúng giỗ ông bà tiên tổ, tức là phải gánh trách nhiệm chăm sóc hương hoả trong nội tộc của mình. Còn đằng ngoại tức gia đình của người mẹ thì hầu như người cháu trai không có vai trò gì, ngoài chức phận tình cảm gắn bó, yêu quý, tôn trọng ông bà ngoại:
                        Cồng cộc bắt cá dưới sông
              Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ.
Quan hệ tình cảm của cha mẹ dành cho con cái luôn luôn là mối quan hệ tình cảm gắn bó sâu sắc, bền chặt và thiêng liêng nhất chi phối cuộc đời mỗi con người,  đặc điểm này đã làm nên sự khác biệt cơ bản trong quan niệm gia đình và phương thức ứng xử của nó giữa phương Đông và phương Tây. Với người Việt Nam biểu hiện của đạo làm con trước hết là phải "biết ơn cha", vì có công lao người cha lao khổ, nuôi dạy mới nên người, và trong thực tế cuộc sống đã minh chứng, mỗi con người chỉ có sự tự tin vào cuộc đời, vào con đường thành công của sự nghiệp khi có sự dạy bảo, định hướng chí tình, chí nghĩa từ người cha. Người cha có thể sẵn sàng chịu mọi khổ cực nhằm mục đích mang lại những điều tốt đẹp cho cuộc đời của mỗi người con. Nỗi vất vả, cực nhọc của người làm cha được ví như núi đá "Thái Sơn" là biểu tượng cho sự trường tồn muôn thuở về sự nhọc nhằn của phận làm cha. Bên cạnh công ơn cha là vai trò người mẹ mà người con phải ghi nhớ "nghĩa mẹ", vì nhờ có mẹ thường xuyên đùm bọc, chăm bẵm, thương yêu mới trưởng thành, cụm từ "nghĩa mẹ" phản ánh tình cảm ruột rà máu thịt, không thể dứt bỏ, khó bày tỏ được giữa mẹ và con. Thơ dân gian đã khai thác, đề cập được cái tính vĩnh hằng, và vĩ đại công sức của người cha, người mẹ đối với con, qua đó khẳng định chân lý, mỗi con người đều phải trải qua bổn phận làm con, nhờ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ mới nên người:
              Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thời mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
              Tam tòng sách hãy còn ghi
               Bé nương cha mẹ, lớn đi lấy chồng.

(Xem tiếp bấm vào đây)